Trước ngày 1/7/2025, tỉnh Thái Bình có 8 đơn vị cấp huyện: thành phố Thái Bình và 7 huyện Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến Xương, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Vũ Thư. Từ ngày đó cả nước bỏ cấp huyện, nên tám đơn vị này không còn trên giấy tờ; vùng đất của chúng nay là 65 xã, phường thuộc tỉnh Hưng Yên.
Dù không còn là đơn vị hành chính, tên các huyện vẫn được dùng hằng ngày để chỉ vùng, để chỉ đường, và phần lớn còn sống trong tên xã mới đặt ở trung tâm huyện cũ. Biết một người "quê Tiền Hải" hay "quê Hưng Hà" vẫn cho bạn biết khá nhiều về nơi họ lớn lên.
Bài này giới thiệu từng huyện cũ: vị trí, đặc điểm, số xã trước khi sắp xếp và các xã mới tương ứng. Số liệu xã cũ, xã mới đếm theo bảng đối chiếu đơn vị hành chính năm 2025.
Bảng tổng hợp: 8 đơn vị cấp huyện và xã mới tương ứng
Bảng dưới đếm theo bảng đối chiếu đơn vị cấp xã lúc bỏ cấp huyện. Cột "xã mới" chỉ tính các đơn vị có trung tâm nằm trong huyện cũ; vài phường ở khu trung tâm nhận đất của nhiều huyện:
| Huyện cũ | Vị trí | Đơn vị cấp xã cũ | Đơn vị mới |
|---|---|---|---|
| Thành phố Thái Bình | Giữa tỉnh, hai bờ sông Trà Lý | 19 (10 phường, 9 xã) | 5 phường |
| Đông Hưng | Giữa tỉnh, phía bắc thành phố | 32 | 9 xã |
| Hưng Hà | Tây bắc, giữa sông Hồng và sông Luộc | 33 | 8 xã |
| Kiến Xương | Phía nam, giáp sông Hồng | 29 | 9 xã |
| Quỳnh Phụ | Đông bắc, giáp sông Luộc, sông Hóa | 35 | 9 xã |
| Thái Thụy | Ven biển phía đông bắc | 36 | 11 xã |
| Tiền Hải | Ven biển phía đông nam | 28 | 8 xã |
| Vũ Thư | Tây nam, giáp sông Hồng | 30 | 6 xã |
Cộng lại là 242 đơn vị cũ và 65 đơn vị mới. Huyện Thái Thụy cũ có nhiều xã mới nhất, vì địa bàn rộng, kéo dài ra biển và tách thành hai cụm mang tên hai huyện cổ Thái Ninh và Thụy Anh.
Thành phố Thái Bình và Vũ Thư: trung tâm và cửa ngõ phía tây nam
Thành phố Thái Bình là tỉnh lỵ từ năm 1890, nằm hai bờ sông Trà Lý, nơi tập trung cơ quan, trường học, bệnh viện lớn, chợ đầu mối và các khu đô thị mới. Trước 2025 thành phố có 10 phường và 9 xã; nay khu vực này chia thành năm phường Thái Bình, Trần Hưng Đạo, Trần Lãm, Trà Lý, Vũ Phúc, mỗi phường nhận thêm vài xã ven của các huyện bên cạnh.
Vũ Thư nằm ở phía tây nam, ôm lấy thành phố từ phía tây và chạy dọc sông Hồng. Đây là cửa ngõ sang Nam Định cũ qua cầu Tân Đệ trên quốc lộ 10. Vũ Thư nổi tiếng với chùa Keo, một công trình kiến trúc gỗ cổ được nhiều người biết tới, và với các bãi bồi ven sông Hồng trồng màu. Huyện được lập năm 1969 từ hai huyện Vũ Tiên và Thư Trì.
Sau 2025, đất Vũ Thư chia thành sáu xã mới: Vũ Thư, Vũ Tiên, Thư Trì, Thư Vũ, Tân Thuận, Vạn Xuân. Một số xã giáp thành phố như Tân Bình, Phúc Thành, Tân Phong, Tân Hòa, Song An, Trung An và một xã Nguyên Xá được nhập vào các phường Thái Bình và Vũ Phúc. Vì vậy người ở các làng ven thành phố cũ của Vũ Thư giờ là cư dân phường, dù cảnh sống vẫn còn nhiều nét làng quê.
Đông Hưng và Quỳnh Phụ: dải đất giữa và đông bắc
Đông Hưng nằm ngay phía bắc thành phố, là ngã tư giao thông của vùng: quốc lộ 10 đi Hải Phòng và quốc lộ 39 đi Hưng Yên cũ và ra biển Diêm Điền đều qua đây. Huyện lập năm 1969 từ Đông Quan và Tiên Hưng. Đông Hưng gắn với làng Nguyễn ở vùng Nguyên Xá, quê của bánh cáy, và với dòng sông Tiên Hưng chảy giữa đồng. Đất Đông Hưng nay thành chín xã: Đông Hưng, Bắc Đông Hưng, Nam Đông Hưng, Đông Quan, Bắc Đông Quan, Tiên Hưng, Bắc Tiên Hưng, Nam Tiên Hưng, Đông Tiên Hưng; riêng xã Đông Dương cũ về phường Trà Lý.
Quỳnh Phụ ở góc đông bắc, giáp sông Luộc và sông Hóa, bên kia sông là đất Hải Phòng. Huyện lập năm 1969 từ Quỳnh Côi và Phụ Dực. Quỳnh Côi là tên thị trấn huyện lỵ cũ và là tên món canh cá nhiều người biết. Vùng này có đền Đồng Bằng và vùng A Sào gắn với thời Trần. Đất Quỳnh Phụ nay thành chín xã: Quỳnh Phụ, Phụ Dực, Quỳnh An, Minh Thọ, Ngọc Lâm, Nguyễn Du, A Sào, Đồng Bằng, Tân Tiến.
Hai huyện này là vùng đồng trong điển hình của Thái Bình: làng mạc dày, ruộng lúa xen ao, nhiều nghề phụ như dệt, mộc, làm bánh. Lao động trẻ phần đông đi làm ở các khu công nghiệp trong tỉnh hoặc lên Hà Nội, Hải Phòng, nên nhiều làng ban ngày khá vắng người trẻ.
Hưng Hà và Kiến Xương: đất cổ ven sông Hồng
Hưng Hà nằm ở góc tây bắc, kẹp giữa sông Hồng và sông Luộc. Huyện lập năm 1969 từ Duyên Hà và Hưng Nhân. Đây là vùng đất cổ, quê gốc của dòng họ Trần với khu di tích ở vùng Tiến Đức, và là quê của nhà bác học Lê Quý Đôn ở làng Diên Hà. Hưng Hà còn có nhiều làng nghề dệt và chiếu cói. Đất Hưng Hà nay thành tám xã: Hưng Hà, Long Hưng, Diên Hà, Tiên La, Thần Khê, Ngự Thiên, Hồng Minh, Lê Quý Đôn.
Kiến Xương nằm phía nam thành phố, phía tây giáp sông Hồng, phía bắc có sông Trà Lý. Tên Kiến Xương là tên phủ cổ, giữ làm tên huyện tới 2025. Kiến Xương gắn với làng chạm bạc Đồng Xâm và nghề dệt lụa ở vùng Nam Cao. Đất Kiến Xương nay thành chín xã: Kiến Xương, Bình Định, Bình Nguyên, Bình Thanh, Hồng Vũ, Lê Lợi, Quang Lịch, Trà Giang, Vũ Quý; xã Tây Sơn cũ về phường Trần Lãm.
Hai huyện này có đê sông Hồng chạy dài, bãi bồi ngoài đê và những làng cổ lâu đời hơn các làng ven biển. Nếu muốn tìm hiểu kiến trúc đình làng, văn bia và nghề thủ công của Thái Bình, đây là nơi nên bắt đầu.
Thái Thụy và Tiền Hải: hai huyện ven biển
Thái Thụy ở phía đông bắc, có bờ biển, cửa sông Diêm Điền và cửa Thái Bình. Huyện lập năm 1969 từ Thái Ninh và Thụy Anh; thị trấn Diêm Điền là huyện lỵ và là cảng cá lớn của vùng. Thái Thụy có nghề muối, nghề cói, nuôi trồng thủy sản và nhà máy nhiệt điện. Đất Thái Thụy nay thành mười một xã, đặt tên theo hai huyện cổ: Thái Ninh, Thụy Anh và các xã Bắc, Nam, Đông, Tây của mỗi tên, cộng xã Thái Thụy ở trung tâm.
Tiền Hải ở phía đông nam, giữa cửa Trà Lý và cửa Ba Lạt. Huyện được lập năm 1828 khi Nguyễn Công Trứ tổ chức khẩn hoang vùng bãi biển, là huyện trẻ nhất của Thái Bình về lịch sử khai phá. Tiền Hải có mỏ khí, các khu công nghiệp vật liệu xây dựng, bãi biển Đồng Châu và vùng cồn bãi rừng ngập mặn. Đất Tiền Hải nay thành tám xã: Tiền Hải, Đông Tiền Hải, Tây Tiền Hải, Nam Tiền Hải, Đồng Châu, Nam Cường, Hưng Phú, Ái Quốc.
Hai huyện ven biển có nhịp sống khác vùng đồng trong: làng mới hơn, đất mặn hơn, nhiều nghề gắn với biển và bãi. Đây cũng là nơi chịu bão trực tiếp và là nơi diễn ra phần lớn việc quai đê lấn biển qua các thế kỷ.
Ranh giới giữa hai huyện ven biển là sông Trà Lý ở đoạn gần cửa. Người hai bên sông nói chung một giọng, làm những nghề giống nhau, nhưng thói quen gọi quê vẫn tách bạch: người Diêm Điền nói về Tiền Hải như nói về một vùng khác. Sau 2025 hai vùng có tổng cộng mười chín xã mới, gần một phần ba số xã của cả vùng Thái Bình cũ.
Tên huyện còn dùng thế nào sau khi bỏ cấp huyện
Trên giấy tờ hành chính từ 1/7/2025, không ghi tên huyện nữa. Một người ở xã Đông Xuyên cũ của Tiền Hải giờ ghi địa chỉ là xã Đông Tiền Hải, tỉnh Hưng Yên. Tuy vậy trong rất nhiều văn bản khác, như sổ đỏ cũ, bằng cấp, giấy khai sinh, hồ sơ bảo hiểm, tên huyện vẫn còn và vẫn có giá trị để đối chiếu.
Trong đời sống, tên huyện cũ còn dùng ở ba chỗ chính. Thứ nhất là tên xã mới: xã Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến Xương, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Vũ Thư đều là xã có trung tâm ở thị trấn huyện lỵ cũ. Thứ hai là tên vùng khi nói chuyện, chỉ đường, rao bán nông sản. Thứ ba là tên nhiều trường học, bệnh viện, bến xe và tổ chức xã hội vốn đặt theo huyện.
Một nhầm lẫn dễ gặp là nghĩ "xã Tiền Hải" bằng cả huyện Tiền Hải cũ. Thực ra xã Tiền Hải chỉ gồm thị trấn Tiền Hải cũ và vài xã sát bên; phần còn lại của huyện thuộc bảy xã khác. Khi tra địa chỉ hay giao hàng, hãy dựa vào tên thôn, tổ dân phố và tên xã cũ để xác định đúng xã mới.
Muốn tìm hiểu điều gì thì về vùng nào
Làng nghề thủ công. Kiến Xương có làng chạm bạc Đồng Xâm và vùng dệt lụa Nam Cao; Hưng Hà có làng dệt Phương La và vùng chiếu cói Hới ở Tân Lễ; Đông Hưng có làng bánh cáy Nguyên Xá. Những làng này nằm ở vùng đồng trong, cách khu trung tâm cũ không xa, đi trong ngày được.
Di tích và lịch sử. Hưng Hà là nơi có khu di tích gắn với dòng họ Trần và đền Tiên La; Vũ Thư có chùa Keo; Quỳnh Phụ có đền Đồng Bằng và vùng A Sào. Muốn đọc văn bia, xem đình làng cổ, nên đi các làng ven sông Hồng của Hưng Hà, Vũ Thư, Kiến Xương.
Biển và vùng bãi. Thái Thụy và Tiền Hải là hai vùng duy nhất có biển: cảng cá Diêm Điền, bãi Cồn Đen, bãi Đồng Châu, Cồn Vành, cánh rừng ngập mặn và đồng muối. Mùa hè đông người, mùa bão nên theo dõi tin thời tiết trước khi đi.
Đô thị và dịch vụ. Khu trung tâm cũ, nay là năm phường, có bệnh viện, trường đại học, chợ lớn, bến xe. Người từ xa về thường dừng ở đây trước rồi mới về quê ở các xã.
Cuộc sống nông thôn điển hình. Đông Hưng, Quỳnh Phụ, phần trong của Kiến Xương và Vũ Thư cho thấy rõ nhất hình ảnh quê lúa: cánh đồng phẳng tới chân trời, làng có lũy tre, ao, đình, kênh mương chằng chịt và nhịp mùa vụ hai vụ lúa một năm.
Câu hỏi thường gặp
Thái Bình có bao nhiêu huyện?
Trước 1/7/2025 Thái Bình có 7 huyện là Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến Xương, Quỳnh Phụ, Thái Thụy, Tiền Hải, Vũ Thư, cộng với thành phố Thái Bình. Từ 1/7/2025 không còn cấp huyện, vùng đất này gồm 65 xã, phường thuộc tỉnh Hưng Yên.
Huyện nào của Thái Bình giáp biển?
Hai huyện cũ giáp biển là Thái Thụy ở phía đông bắc và Tiền Hải ở phía đông nam. Ranh giới giữa hai huyện là sông Trà Lý ở đoạn gần cửa biển. Sau 2025, các xã ven biển của hai vùng này làm nên toàn bộ bờ biển của tỉnh Hưng Yên.
Huyện nào của Thái Bình rộng nhất?
Thái Thụy là huyện có nhiều xã nhất trước 2025 và nay cũng tách thành nhiều xã mới nhất, mười một xã. Diện tích chính xác của từng huyện thay đổi theo các lần điều chỉnh, nên khi cần con số nên tra tài liệu thống kê hoặc địa chí chính thức.
Thị trấn huyện lỵ cũ của Thái Bình nay ra sao?
Các thị trấn huyện lỵ như Đông Hưng, Hưng Hà, Kiến Xương, Quỳnh Côi, Diêm Điền, Tiền Hải, Vũ Thư được nhập với vài xã xung quanh thành các xã mới, phần lớn mang tên huyện cũ. Ví dụ thị trấn Diêm Điền thuộc xã Thái Thụy, thị trấn Quỳnh Côi thuộc xã Quỳnh Phụ.
Thái Bình trước năm 1969 có những huyện nào?
Trước 1969 vùng này có nhiều huyện nhỏ hơn như Thái Ninh, Thụy Anh, Đông Quan, Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Phụ Dực, Thư Trì, Vũ Tiên, cùng Kiến Xương và Tiền Hải. Năm 1969 các huyện nhập theo từng cặp thành bảy huyện quen thuộc.
Thành phố Thái Bình cũ nay là phường nào?
Khu vực thành phố cũ nay thuộc năm phường: Thái Bình, Trần Hưng Đạo, Trần Lãm, Trà Lý và Vũ Phúc. Một số phường nhận thêm xã ven của Vũ Thư, Đông Hưng, Kiến Xương, nên ranh giới phường mới rộng hơn thành phố cũ ở vài phía.