Ở vùng Thái Bình cũ, lúa vẫn phủ phần lớn đồng ruộng, nhưng cách làm đã khác hẳn hai mươi năm trước: máy làm đất, máy cấy, máy gặt đập liên hợp thay sức người ở gần hết các khâu; nhiều hộ cho người khác thuê hoặc mượn ruộng; một số người "làm lớn" gom vài chục mẫu cấy theo hợp đồng. Người giữ ruộng phần đông là trung niên và người cao tuổi, con cái đi làm nhà máy hoặc đi xa.
Vụ đông, khoảng thời gian sau gặt mùa và trước cấy chiêm, từng là niềm tự hào của nông nghiệp đồng bằng sông Hồng với khoai tây, ngô, bí, dưa, rau màu. Ngày nay diện tích vụ đông co giãn theo việc có người làm và có đầu ra hay không.
Bài này mô tả nông nghiệp vùng Thái Bình cũ như nó đang diễn ra: ai làm, làm bằng gì, cái gì còn, cái gì đổi, những điều người mới về quê làm ruộng hay người thuê ruộng nên biết. Bài không đưa sản lượng, giá lúa hay giá thuê ruộng.
Vì sao Thái Bình được gọi là quê lúa
Vùng Thái Bình cũ là đồng bằng phù sa do sông Hồng và các nhánh bồi đắp, đất thấp và bằng, nước tưới dồi dào. Từ thời phong kiến đây đã là vùng trồng lúa nước quan trọng. Sau năm 1954, hệ thống thuỷ nông với kênh mương, trạm bơm, cống điều tiết được đầu tư dày đặc, giúp chủ động tưới tiêu hai vụ lúa mỗi năm.
Trong những năm 1960 và 1970, Thái Bình nổi tiếng cả nước vì là nơi đi đầu đạt năng suất lúa cao theo mục tiêu thời bấy giờ, nhiều hợp tác xã trở thành điển hình thâm canh. Từ đó danh hiệu "quê lúa" gắn với tên tỉnh, và gạo Thái Bình được nhiều người ở xa nhắc tới như thứ gạo quê.
Ngày nay năng suất lúa của vùng vẫn thuộc nhóm cao, nhưng các vùng khác đã bắt kịp nhờ giống mới và kỹ thuật mới. Cái còn lại khác biệt là cảnh quan: những cánh đồng lúa phẳng tít tắp, gần như không bị đồi núi cắt ngang, nhìn từ đê xuống thấy cả một biển xanh hoặc vàng tuỳ mùa.
Ai còn làm ruộng: bức tranh trong một làng điển hình
Đi qua một làng ở vùng giữa Thái Bình cũ vào mùa cấy, bạn sẽ thấy người ra đồng phần lớn đã ngoài năm mươi. Lớp trẻ đi làm khu công nghiệp, đi Hà Nội, đi Nam hoặc đi nước ngoài. Ruộng khoán theo hộ từ những năm 1990 được chia nhỏ theo nhân khẩu, mỗi nhà vài sào, nằm rải ở nhiều xứ đồng khác nhau.
Với ruộng nhỏ và manh mún như thế, nhiều gia đình thấy tự làm không còn bõ công. Họ chọn một trong ba cách: tự làm nhưng thuê máy ở mọi khâu; cho một người trong làng mượn hoặc thuê ruộng với khoản trả bằng thóc hoặc tiền; hoặc để hợp tác xã, tổ hợp tác đứng ra làm dịch vụ trọn gói.
Ở chiều ngược lại xuất hiện những hộ làm lớn: gom hàng chục mẫu ruộng thuê, đầu tư máy cấy, máy gặt, lò sấy, làm dịch vụ cho cả làng. Họ là người giữ cho cánh đồng không bị bỏ hoang khi lao động trẻ ra đi. Đây là thay đổi âm thầm nhưng sâu sắc nhất của nông nghiệp vùng này.
Các cách làm ruộng phổ biến hiện nay
Bảng dưới so sánh các hình thức mà một hộ có ruộng ở vùng Thái Bình cũ thường cân nhắc:
| Cách làm | Phù hợp với ai | Điều cần thoả thuận rõ |
|---|---|---|
| Tự làm, thuê máy từng khâu | Hộ còn người khoẻ, muốn giữ thóc ăn | Giá và thời điểm thuê máy, ai chịu rủi ro khi máy làm hỏng |
| Cho mượn, cho thuê ruộng | Hộ không còn lao động, con cái đi xa | Thời hạn, khoản trả, ai đóng các khoản phí, khi nào lấy lại ruộng |
| Dịch vụ trọn gói qua hợp tác xã | Hộ muốn giữ quyền ruộng nhưng không trực tiếp làm | Các khâu dịch vụ gồm gì, chất lượng giống, chia sản phẩm |
| Liên kết với doanh nghiệp | Cánh đồng lớn, hộ làm nhiều | Giống, quy trình, tiêu chuẩn thu mua, cách tính giá, ai chịu rủi ro thiên tai |
Dù chọn cách nào, nên có giấy viết tay hoặc hợp đồng ghi rõ, có người làm chứng hoặc xác nhận của thôn, xã. Nhiều tranh chấp ruộng đất trong làng bắt nguồn từ thoả thuận miệng từ nhiều năm trước.
Máy móc trên đồng: từ trâu cày đến máy gặt đập liên hợp
Hai mươi năm trước, cấy và gặt là hai đợt "chạy mùa" vất vả nhất năm, con cháu đi xa phải về giúp. Nay ở phần lớn cánh đồng vùng Thái Bình cũ, máy cày, máy bừa làm đất, máy gặt đập liên hợp gặt và tuốt ngay trên ruộng, thóc được đóng bao chở về. Máy cấy cũng đã phổ biến ở những cánh đồng lớn, đi kèm khay mạ.
Máy giúp giảm công, nhưng đặt ra yêu cầu mới: thửa ruộng phải đủ to, bờ phải thấp để máy đi qua, mạ phải gieo trong khay, lịch cấy phải đồng đều để máy chạy liền một vùng. Đây là một lý do khiến nhiều xã khuyến khích dồn điền đổi thửa, làm cánh đồng mẫu lớn.
Thóc gặt bằng máy thường ẩm, cần phơi hoặc sấy ngay. Sân phơi ở làng không còn rộng như xưa vì nhà cửa xây kín, nên lò sấy thóc của các hộ làm dịch vụ trở nên quan trọng. Rơm rạ sau gặt thì từng bị đốt ngay trên ruộng gây khói mù; việc thu gom rơm cuộn làm thức ăn gia súc, trồng nấm là hướng được khuyến khích.
Vụ đông: khoai tây, ngô, bí và rau màu
Vụ đông ở đồng bằng sông Hồng kéo dài khoảng từ tháng chín, tháng mười đến tháng một, tháng hai năm sau, chen giữa lúa mùa và lúa chiêm xuân. Thời tiết lạnh, khô hợp với khoai tây, su hào, bắp cải, súp lơ, cà rốt, hành tỏi, ngô, bí xanh, bí đỏ, dưa. Vùng Thái Bình cũ có truyền thống làm vụ đông lâu đời, một số xã chuyên khoai tây, chuyên rau.
Lợi ích của vụ đông là tăng thu nhập trên cùng mảnh ruộng và cải tạo đất. Nhưng nó cần nhiều công chăm sóc, cần vốn giống, phân, và rủi ro giá rau khi vào chính vụ. Năm được giá thì lãi khá, năm rau rớt giá thì có khi không bõ công thu hoạch.
Vì vậy, vụ đông ở những nơi có doanh nghiệp, hợp tác xã ký hợp đồng bao tiêu thường ổn định hơn nơi tự trồng tự bán. Với người mới làm, bắt đầu từ diện tích nhỏ, chọn cây có đầu ra rõ ràng, hỏi kinh nghiệm hộ làm lâu năm trong làng là cách giảm rủi ro.
Những chuyển động mới trong nông nghiệp vùng
Lúa chất lượng và lúa đặc sản. Nhiều cánh đồng chuyển sang giống lúa thơm, lúa chất lượng cao, nếp đặc sản theo đơn đặt hàng, thay cho chỉ chạy theo năng suất.
Chăn nuôi ra khỏi khu dân cư. Trang trại lợn, gà, vịt dần dời ra vùng quy hoạch xa làng để giảm mùi và ô nhiễm; chăn nuôi nhỏ lẻ trong nhà giảm nhiều sau các đợt dịch bệnh.
Mô hình lúa – cá, lúa – vịt. Ở vùng trũng, một số hộ chuyển ruộng cấy kém sang ao nuôi cá kết hợp, hoặc thả vịt trên ruộng sau gặt.
Nông nghiệp ven biển. Vùng giáp biển Thái Thụy, Tiền Hải có đất nhiễm mặn, xen kẽ lúa với nuôi trồng thuỷ sản và làm muối; nghề cói từng phát triển mạnh ở vùng đất mặn này.
Bán hàng qua mạng. Gạo quê, nếp, các sản phẩm từ lúa được con cháu đi xa bán qua mạng cho người quen ở thành phố; quy mô nhỏ nhưng phổ biến.
Người muốn về quê làm nông cần chuẩn bị gì
Không ít người Thái Bình làm ăn xa nay muốn về quê làm trang trại, cấy lúa hữu cơ, trồng rau sạch. Điều đầu tiên cần biết là đất nông nghiệp ở vùng này rất manh mún; muốn làm quy mô thì phải thuê, mượn của nhiều hộ, mỗi hộ một thoả thuận. Thời hạn thuê ngắn thì khó đầu tư lâu dài.
Thứ hai, chuyển mục đích sử dụng đất lúa sang mục đích khác như làm trang trại, xây chuồng trại, nhà kho bị kiểm soát chặt; phải hỏi kỹ chính quyền xã và cơ quan đất đai trước khi xây dựng bất cứ thứ gì trên ruộng, tránh bị buộc tháo dỡ.
Thứ ba, làm nông có rủi ro thời tiết, sâu bệnh, giá cả. Nên bắt đầu nhỏ, học từ người làm giỏi trong vùng, tìm đầu ra trước khi trồng, và tính cả công của mình vào giá thành. Trang này không khuyên đầu tư vào mô hình nào cụ thể.
Tự tính lãi lỗ một sào lúa: các khoản cần ghi
Nhiều hộ làm ruộng cả đời mà chưa từng ngồi cộng trừ một vụ. Cách tính dưới đây không đưa giá, bạn tự điền số của nhà mình theo giá ở xã:
| Khoản | Gồm những gì | Ghi chú |
|---|---|---|
| Giống | Thóc giống hoặc mạ khay mua sẵn | Giống xác nhận đắt hơn nhưng đều cây, ít sâu bệnh |
| Làm đất | Tiền thuê máy cày, bừa, san | Trả theo sào hoặc theo giờ máy |
| Cấy | Thuê máy cấy hoặc công cấy tay | Máy cấy cần mạ khay |
| Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật | Đạm, lân, kali, phân hữu cơ, thuốc trừ sâu bệnh, cỏ | Khoản dao động nhiều nhất theo năm |
| Nước, thuỷ lợi, phí dịch vụ | Các khoản đóng cho hợp tác xã nếu có | Hỏi hợp tác xã nơi có ruộng |
| Gặt, chở, phơi sấy | Thuê máy gặt, công chở, tiền sấy | Thóc ướt bán ngay thường bị trừ giá |
| Công của chính mình | Số ngày công thăm đồng, bón phân, phun thuốc, phơi | Hay bị bỏ quên khi tính |
Lấy sản lượng thóc nhân giá bán ở thời điểm thu hoạch (hoặc giá trị thóc giữ lại ăn) trừ tổng chi phí là lãi tiền mặt; trừ tiếp công của mình mới ra lãi thật. Làm một lần như vậy, nhiều hộ hiểu vì sao cho thuê ruộng hoặc làm dịch vụ lại hợp lý hơn tự làm. Ngược lại, với hộ làm lớn có máy riêng, chi phí mỗi sào giảm đáng kể, nên họ vẫn có lãi ở mức giá mà hộ nhỏ thấy lỗ.
Một ví dụ giả định để thấy cách nghĩ: nếu tiền thóc của một sào sau khi trừ giống, phân, máy chỉ còn một khoản nhỏ, mà hộ phải bỏ ra hơn chục ngày công, thì mỗi ngày công trên ruộng thấp hơn hẳn một ngày làm ca ở nhà máy. Phép so ấy giải thích vì sao người trẻ rời ruộng, chứ không phải vì họ không quý đất.
Câu hỏi thường gặp
Thái Bình mỗi năm cấy mấy vụ lúa?
Phần lớn ruộng ở vùng Thái Bình cũ cấy hai vụ lúa mỗi năm là vụ chiêm xuân và vụ mùa, xen giữa có thể làm vụ đông với khoai tây, ngô, rau màu. Lịch thời vụ cụ thể từng năm do ngành nông nghiệp địa phương hướng dẫn theo thời tiết.
Cho thuê ruộng ở Thái Bình cũ cần giấy tờ gì?
Nên lập văn bản thoả thuận ghi rõ diện tích, vị trí thửa, thời hạn, khoản trả, trách nhiệm các bên và điều kiện chấm dứt, có chữ ký hai bên và người làm chứng hoặc xác nhận của thôn, xã. Cần thì hỏi bộ phận địa chính xã về quy định hiện hành.
Vì sao nhiều ruộng ở quê bỏ hoang?
Thường do thiếu lao động khi con cái đi xa, ruộng quá nhỏ hoặc nằm ở chỗ khó tưới tiêu, máy không vào được, hoặc thu nhập từ lúa thấp so với công bỏ ra. Ở nơi có người làm dịch vụ hoặc thuê gom ruộng, tình trạng này giảm hẳn.
Gạo Thái Bình có gì khác gạo nơi khác?
Gạo của vùng không phải một giống riêng duy nhất mà gồm nhiều giống lúa tẻ, lúa thơm, nếp được trồng trên đất phù sa đồng bằng. Nhiều người quý gạo quê vì quen vị và tin vào nguồn gốc. Muốn chọn gạo ngon, nên hỏi rõ giống lúa và vụ.
Có nên đốt rơm rạ sau khi gặt không?
Đốt rơm rạ gây khói bụi ảnh hưởng sức khoẻ và giao thông, nhiều địa phương đã khuyến cáo hạn chế. Rơm có thể cuộn làm thức ăn cho trâu bò, làm nền trồng nấm, ủ phân hoặc vùi lại ruộng với chế phẩm phân huỷ để cải tạo đất.
Muốn về quê làm trang trại thì hỏi ai trước?
Bắt đầu từ uỷ ban xã mới nơi có đất để hỏi quy hoạch và thủ tục, cơ quan khuyến nông của tỉnh để được tư vấn kỹ thuật, và các hộ làm giỏi trong vùng. Hãy tìm hiểu kỹ quy định về đất lúa trước khi xây dựng bất cứ công trình nào.