ThaiBinh.orgThái Bình
Kinh tế và công nghiệp

Kinh tế thuỷ sản ven biển Thái Bình cũ: tàu cá, nuôi ngao, chế biến, ai giữ tiền

Thuỷ sản ven biển Thái Thụy, Tiền Hải vận hành theo chuỗi: tàu cá, cảng cá, đầm nuôi, bãi ngao, xưởng chế biến, thương lái. Ai làm khâu nào, rủi ro nằm ở đâu.

Fishing boats moored three deep at a muddy river mouth harbour in northern Vietnam at dawn, men unloading baskets of fish onto a concrete quay, gulls overhead, seen from a distance

Kinh tế thuỷ sản ở dải ven biển Thái Thụy và Tiền Hải cũ là một chuỗi nhiều khâu: tàu cá ra khơi và về cảng cá, các đầm nuôi tôm cá nước lợ, các bãi nuôi ngao trên vùng triều, xưởng sơ chế và chế biến, rồi thương lái đưa hàng đi Hà Nội, Hải Phòng và xuất khẩu. Mỗi khâu có người làm riêng, lợi nhuận và rủi ro chia không đều giữa các khâu.

Ngao là sản phẩm nổi tiếng nhất của vùng biển này, từng đưa nhiều hộ ven biển từ khó khăn lên khá giả, nhưng cũng từng có những vụ ngao chết hàng loạt làm mất trắng. Nghề đánh bắt có tàu cá neo đậu ở vùng Diêm Điền và các cửa sông khác dọc bờ.

Bài này nhìn nghề biển từ góc kinh tế: dòng tiền chạy từ đâu tới đâu, ai bỏ vốn, ai chịu rủi ro, cần những gì để làm ăn bền. Phần đời sống làng biển, cách đi chơi biển và món ăn hải sản nằm ở các mục biển và ẩm thực của trang.

Dải ven biển Thái Bình cũ: đất trẻ, bãi bồi và cửa sông

Bờ biển vùng Thái Bình cũ nằm giữa cửa sông Hồng ở phía nam (Ba Lạt) và cửa sông Thái Bình ở phía bắc, xen giữa có các cửa Trà Lý, Diêm Hộ. Phù sa các sông này bồi ra biển tạo nên những bãi triều rộng, bằng phẳng, đáy cát bùn, là điều kiện tự nhiên lý tưởng cho ngao, vạng, các loài nhuyễn thể và cho rừng ngập mặn.

Đất ven biển là đất trẻ, nhiều nơi mới được quai đê lấn biển trong vài trăm năm qua. Phía trong đê là ruộng lúa nhiễm mặn, đồng muối, đầm nuôi; phía ngoài đê là bãi triều và rừng ngập mặn. Kinh tế ven biển vì vậy là sự pha trộn giữa nông nghiệp, diêm nghiệp, nuôi trồng và đánh bắt.

Mùa bão và triều cường là nỗi lo thường trực. Một cơn bão lớn đổ bộ có thể phá đầm, cuốn trôi lưới, đánh chìm tàu và làm ngao chết vì nước ngọt đổ về quá nhiều. Người làm nghề biển ở đây quen sống với rủi ro này, nhưng mỗi lần thiệt hại đều kéo lùi kinh tế của cả làng nhiều năm.

Tàu cá và cảng cá: khâu đánh bắt

Ngư dân vùng Thái Bình cũ có cả nghề lộng (đánh gần bờ bằng thuyền nhỏ, đi về trong ngày) và nghề khơi (tàu lớn hơn, đi dài ngày ra vùng biển vịnh Bắc Bộ). Nghề lộng dùng lưới, đăng đáy, cào, bắt tôm cá, sứa theo mùa. Nghề khơi cần vốn lớn hơn nhiều cho thân tàu, máy, ngư cụ, dầu, đá lạnh và lương thực cho chuyến biển.

Một chuyến biển thường được tính toán theo kiểu chia phần: chủ tàu bỏ vốn tàu và chi phí chuyến, thuyền viên góp công, sau khi bán cá trừ chi phí thì chia theo tỷ lệ thoả thuận. Chuyến được cá thì cả tàu vui, chuyến mất mùa thì chủ tàu gánh phần lỗ chi phí còn thuyền viên chỉ có ít tiền công.

Cảng cá ở vùng cửa sông Diêm Hộ, Diêm Điền là nơi tàu cập bến, bán cá cho thương lái và các nậu vựa. Hàng tươi được ướp đá đưa đi các chợ đầu mối; hàng loại thấp hơn vào xưởng làm nước mắm, cá khô, bột cá. Quy định về ghi nhật ký khai thác, giám sát hành trình, chống khai thác bất hợp pháp ngày càng chặt, chủ tàu cần nắm và tuân thủ.

Một vòng nuôi ngao trên bãi triều, từ giống đến bán

Nuôi ngao là nghề làm giàu cho nhiều hộ ven biển nhưng cần vốn và kiến thức. Một vụ nuôi điển hình đi qua các bước:

  1. Được giao hoặc thuê khu vực bãi triều để nuôi theo quy định của địa phương, có ranh giới rõ, cắm cọc, quây lưới chắn.
  2. Cải tạo bãi: san phẳng, làm sạch, có khi bổ sung cát để nền phù hợp.
  3. Thả giống: ngao giống mua từ các trại sản xuất giống hoặc thu giống tự nhiên; chất lượng giống quyết định phần lớn thành bại.
  4. Chăm sóc: canh bãi ngày đêm chống mất trộm, kiểm tra lưới, theo dõi ngao chết, san thưa khi mật độ dày.
  5. Thu hoạch sau khoảng một đến hai năm tuỳ cỡ ngao muốn bán; ngao được cào, rửa, phân loại, nhốt cho nhả cát.
  6. Bán cho thương lái hoặc cơ sở chế biến, đi chợ nội địa hoặc vào chuỗi xuất khẩu.

Rủi ro lớn nhất là ngao chết hàng loạt khi nắng nóng kéo dài, độ mặn thay đổi đột ngột do lũ đổ về, hoặc môi trường nước bị ô nhiễm. Hộ nuôi nên tham gia tổ hợp tác, chia sẻ thông tin môi trường, mua giống có nguồn gốc và không dồn toàn bộ vốn vào một vụ.

Ai giữ đồng tiền trong chuỗi thuỷ sản ven biển

Bảng dưới mô tả định tính vai trò và rủi ro của từng khâu, không có con số:

KhâuBỏ ra gìRủi ro chínhSức mạnh mặc cả
Ngư dân, chủ tàuVốn tàu, dầu, công sức, an toàn tính mạngThời tiết, chuyến mất mùa, giá dầuThấp khi phải bán ngay hàng tươi
Hộ nuôi ngao, nuôi đầmVốn giống, công canh bãi, thời gian một đến hai nămDịch bệnh, ngao chết, mất trộm, bãoPhụ thuộc thương lái khi đến lúc thu
Thương lái, nậu vựaVốn ứng trước, phương tiện chở, kho lạnhBiến động giá, hàng hỏngCao vì nắm đầu ra và thông tin giá
Cơ sở chế biếnNhà xưởng, máy, lao động, tiêu chuẩn chất lượngĐơn hàng, tiêu chuẩn thị trườngTuỳ quy mô, chứng nhận
Người bán lẻ, nhà hàngMặt bằng, khách hàngTồn hàngĐịnh giá với người tiêu dùng

Một thực tế phổ biến là người làm khâu đầu bỏ nhiều công và rủi ro nhất nhưng lại yếu nhất khi mặc cả. Các tổ hợp tác, hợp tác xã nuôi ngao, liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu là cách để nâng vị thế của người nuôi.

Chế biến và tiêu chuẩn: bước để hàng đi xa

Muốn bán ngao, cá ra ngoài phạm vi chợ địa phương, nhất là xuất khẩu, sản phẩm phải qua sơ chế, chế biến ở cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, có kiểm soát vùng nuôi. Ngao là loài ăn lọc, tích tụ chất bẩn từ nước, nên vùng nuôi cần được quan trắc định kỳ về môi trường và độc tố; thị trường khó tính đòi hỏi truy xuất nguồn gốc đến từng vùng.

Vùng ven biển Thái Bình cũ có các cơ sở sơ chế, đông lạnh thuỷ sản, làm nước mắm, cá khô quy mô vừa và nhỏ. Lao động làm sơ chế phần lớn là phụ nữ địa phương, làm theo mùa hàng. Công việc đứng lâu, tay tiếp xúc nước lạnh, nước muối; nên hỏi về đồ bảo hộ và chế độ khi nhận việc.

Với hộ nhỏ muốn tự làm sản phẩm như mắm, ruốc, cá khô bán qua mạng, cần tìm hiểu quy định về cơ sở sản xuất thực phẩm, ghi nhãn, công bố sản phẩm theo quy định hiện hành. Bán lẻ cho người quen thì đơn giản, nhưng bán rộng mà không đủ giấy tờ dễ gặp rủi ro.

Làm muối: nghề cũ đang thu hẹp

Ven biển Thái Thụy, Tiền Hải từng có những cánh đồng muối rộng, nghề làm muối phơi cát, phơi nước lâu đời. Muối làm ra cung cấp cho làm mắm, muối dưa, cho chăn nuôi và công nghiệp. Nghề muối vất vả: làm dưới nắng gắt, phụ thuộc trời nắng, mưa trái mùa là mất mẻ muối.

Thu nhập từ muối thấp và bấp bênh, nên diện tích đồng muối nhiều nơi thu hẹp, chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản hoặc nhường đất cho dự án. Người làm muối phần lớn là người lớn tuổi. Một số nơi giữ nghề như một phần ký ức và sản phẩm đặc trưng.

Về kinh tế, muối thủ công gặp hai sức ép cùng lúc: muối công nghiệp sản xuất quy mô lớn ở các vùng nắng nhiều phía Nam có giá thành thấp hơn, và đất đồng muối ven biển có giá trị cao hơn nếu chuyển sang nuôi trồng hay dự án. Một số nơi thử làm muối sạch trên nền bạt, đóng gói có thương hiệu để bán giá cao hơn, nhưng quy mô vẫn nhỏ và phụ thuộc người tiêu dùng chịu trả thêm cho chất lượng.

Câu chuyện đồng muối nhìn từ góc đời sống và cảnh quan được kể ở mục biển và vùng cồn bãi; ở đây chỉ ghi nhận rằng muối đang là khâu nhỏ nhất và yếu nhất trong kinh tế ven biển vùng này.

Khai thác tự nhiên ven bờ: cua, vạng, sứa và rừng ngập mặn

Ngoài nuôi trồng có chủ, vùng bãi triều và rừng ngập mặn ven biển Thái Bình cũ còn nuôi sống nhiều người làm nghề khai thác tự nhiên: bắt cua, bắt còng, cào vạng, mò ốc, đặt lờ đó trong lạch triều. Đây là nghề của người nghèo nhất ven biển, ít vốn, làm theo con nước, thu nhập từng ngày.

Theo mùa, vùng biển này còn có sứa vào gần bờ, ngư dân đánh sứa rồi bán cho các cơ sở sơ chế bằng muối và phèn để xuất đi. Mùa sứa ngắn nhưng nhộn nhịp, cả bến cá tấp nập thuyền về.

Nguồn lợi tự nhiên phụ thuộc vào sức khoẻ của rừng ngập mặn và chất lượng nước. Khi rừng bị phá để làm đầm hay làm dự án, khi dùng ngư cụ huỷ diệt như kích điện, lưới mắt quá nhỏ, nguồn lợi cạn nhanh và người khai thác nhỏ là người chịu thiệt đầu tiên. Bảo vệ rừng ngập mặn vì vậy không chỉ là chuyện môi trường mà là chuyện sinh kế của chính những hộ khó khăn nhất.

Giảm rủi ro cho người làm biển: những việc làm được

Theo dõi thời tiết và lệnh cấm biển. Nghe bản tin dự báo, tuân thủ lệnh cấm ra khơi khi có bão; chủ tàu cần trang bị thiết bị liên lạc, phao cứu sinh đủ cho thuyền viên.

Mua bảo hiểm tàu và bảo hiểm thuyền viên. Có các chính sách hỗ trợ một phần phí bảo hiểm cho tàu cá theo từng thời kỳ; hỏi cơ quan thuỷ sản và uỷ ban xã về quy định hiện hành.

Không dồn hết vốn vào một vụ, một bãi. Hộ nuôi ngao nên chia đợt thả giống, giữ một phần vốn dự phòng cho vụ hỏng.

Tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã. Cùng canh bãi, cùng mua giống, cùng bán sẽ có sức mặc cả cao hơn, chia sẻ thông tin môi trường nhanh hơn.

Ghi chép và giữ giấy tờ. Giấy giao khu vực nuôi, hoá đơn mua giống, nhật ký khai thác là căn cứ khi xin hỗ trợ thiệt hại do thiên tai hoặc khi có tranh chấp.

Báo ngay khi có dấu hiệu bất thường. Ngao chết, cá chết, nước đổi màu cần báo uỷ ban xã và cơ quan chuyên môn để lấy mẫu sớm, vì để lâu khó xác định nguyên nhân.

Câu hỏi thường gặp

Ngao Thái Bình nuôi ở đâu?

Ngao được nuôi chủ yếu trên các bãi triều ven biển vùng Thái Thụy và Tiền Hải cũ, gần các cửa sông. Từ 7/2025, các xã ven biển này đã sắp xếp thành các xã mới của tỉnh Hưng Yên. Khu vực nuôi được địa phương giao hoặc cho thuê theo quy định.

Vì sao ngao hay chết hàng loạt?

Nguyên nhân thường gặp là nắng nóng kéo dài làm nước trên bãi quá nóng, độ mặn giảm đột ngột khi lũ hoặc mưa lớn đổ nước ngọt ra biển, mật độ nuôi quá dày, giống yếu, hoặc môi trường nước bị ô nhiễm. Cần cơ quan chuyên môn lấy mẫu mới xác định chính xác.

Cảng cá ở vùng Thái Bình cũ nằm ở đâu?

Tàu cá của vùng tập trung ở khu vực cửa sông Diêm Hộ, vùng Diêm Điền thuộc Thái Thụy cũ, cùng các bến nhỏ ở các cửa sông khác. Thông tin về cảng cá, bến cá được công bố chính thức nên tra trên trang của cơ quan thuỷ sản tỉnh.

Muốn làm thương lái thuỷ sản cần những gì?

Cần vốn ứng trước, phương tiện chở có giữ lạnh, mối quan hệ với người nuôi và người mua ở chợ đầu mối, và hiểu rủi ro biến động giá. Nếu đăng ký kinh doanh và vận chuyển xa, cần tìm hiểu quy định an toàn thực phẩm và thuế theo quy định hiện hành.

Nghề biển ở Thái Bình có còn thu hút người trẻ không?

Ít hơn trước. Nghề biển nặng nhọc, rủi ro, thu nhập bấp bênh, trong khi nhà máy trên bờ trả lương tháng ổn định. Nhiều tàu khó tuyển thuyền viên trẻ; người trẻ ở lại với nghề thường là con các gia đình có tàu, có bãi nuôi.

Mua ngao, hải sản ở vùng biển Thái Bình cũ cần lưu ý gì?

Nên mua ở nơi có nguồn rõ ràng, ngao còn sống, vỏ khép chặt hoặc khép lại khi chạm vào, không có mùi lạ. Nấu chín kỹ. Khi có cảnh báo của cơ quan chức năng về vùng nuôi bị ô nhiễm hay độc tố, nên tạm tránh hàng từ vùng đó.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.