ThaiBinh.orgThái Bình
Lịch sử và tên gọi

Nguyễn Công Trứ khẩn hoang Tiền Hải năm 1828: vùng đất mới trước biển

Năm 1828 Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ tổ chức khẩn hoang bãi biển, lập huyện Tiền Hải. Khẩn hoang diễn ra thế nào, làng được lập ra sao và dấu vết còn lại.

Coastal plain at low tide in northern Vietnam, wide mudflats and young mangrove shoots, a lone figure walking along an earthen embankment toward distant village trees under grey sky

Huyện Tiền Hải ra đời năm 1828 nhờ cuộc khẩn hoang do Nguyễn Công Trứ, khi ấy giữ chức Doanh điền sứ dưới triều vua Minh Mạng, tổ chức trên vùng bãi bồi ven biển phía đông nam Thái Bình ngày nay. Cùng đợt đó, ông lập huyện Kim Sơn ở Ninh Bình. Tên Tiền Hải có nghĩa là "phía trước biển", nói lên chính bản chất của vùng đất: đất mới bồi, giành từ biển.

Trước cuộc khẩn hoang, vùng này là bãi lầy, cói, sú vẹt, nước mặn ra vào theo triều, chỉ có lác đác người đi chài, nấu muối. Sau vài năm, nơi đây có làng, có ruộng, có đê ngăn mặn, có đình chợ, và trở thành một huyện. Đó là một trong những cuộc khẩn hoang có tổ chức nổi tiếng nhất của thời Nguyễn.

Bài này kể bối cảnh, cách tổ chức khẩn hoang, cấu trúc làng ấp được lập ra, vai trò của Nguyễn Công Trứ trong ký ức địa phương, và Tiền Hải ngày nay sau khi thành tám xã của tỉnh Hưng Yên.

Bối cảnh: vì sao triều Nguyễn cần khẩn hoang

Đầu thế kỷ mười chín, đồng bằng Bắc Bộ đông dân, ruộng ít, nhiều người không có đất cày, đói kém xảy ra thường xuyên và các cuộc nổi dậy của nông dân nghèo không ngớt. Triều Nguyễn nhìn thấy một nguồn đất mới ở vùng ven biển: phù sa sông Hồng và các sông khác bồi ra hằng năm, tạo những bãi rộng chưa ai khai thác.

Khẩn hoang vùng bãi biển vì thế giải quyết hai việc cùng lúc: có thêm ruộng để nuôi dân, và đưa dân nghèo lưu tán vào làng ấp có tổ chức, giảm nguy cơ bất ổn. Nhưng làm được không dễ, vì đất bãi mặn, chua, ngập theo triều, cần đắp đê, đào kênh, chờ vài năm đất mới trồng lúa được. Một người dân nghèo tự mình không thể làm; cần nhà nước đứng ra tổ chức và cấp vốn.

Nguyễn Công Trứ, một quan văn quê Hà Tĩnh đã có tiếng về năng lực làm việc và thơ văn, dâng sớ đề xuất kế hoạch khẩn hoang. Vua Minh Mạng chấp thuận và cử ông làm Doanh điền sứ, chức vụ chuyên lo việc mở đất, chiêu dân.

Điều làm cuộc khẩn hoang này khác các đợt mở đất tự phát trước đó là quy mô và cách làm có hệ thống. Trước đây, người dân ven biển cũng tự quai những bờ nhỏ để làm muối hay trồng cói, nhưng manh mún, dễ vỡ. Lần này nhà nước đứng ra lo phần việc lớn mà sức một làng không kham nổi: đắp đê dài, đào kênh chính, cấp vốn ban đầu và miễn giảm thuế những năm đầu. Nhờ vậy làng mới có thể trụ lại qua những vụ thất thu đầu tiên.

Khẩn hoang được tổ chức thế nào

Theo các tài liệu về cuộc khẩn hoang, công việc đi theo một trình tự khá bài bản, có thể tóm tắt thành các bước:

  1. Khảo sát và chọn bãi. Xác định vùng bãi đủ cao, đủ rộng, có thể đắp đê bao quanh và lấy được nước ngọt từ sông.
  2. Chiêu mộ dân. Kêu gọi người nghèo, người không có ruộng, kể cả những người lưu tán, đến nhận đất. Người đến được tổ chức thành từng nhóm, mỗi nhóm lập một ấp.
  3. Cấp vốn ban đầu. Nhà nước hỗ trợ tiền, trâu bò, nông cụ, lương ăn trong thời gian chờ thu hoạch, để người dân trụ lại được những năm đầu khó khăn.
  4. Đắp đê, đào kênh. Đắp đê ngăn nước mặn, đào kênh dẫn nước ngọt vào thau chua, rửa mặn. Đây là phần việc nặng nhất và quyết định thành bại.
  5. Trồng cây tiên phong. Đất còn mặn thì trồng cói và các cây chịu mặn trước, vài năm sau khi đất ngọt dần mới cấy lúa.
  6. Chia ruộng, lập làng. Ruộng chia cho các hộ theo đơn vị ấp; mỗi làng dựng đình, chợ, đặt tên, ghi sổ để nộp thuế theo kỳ hạn được ân giảm.

Cách làm này cho thấy khẩn hoang không chỉ là phát quang mà là xây dựng cả một cộng đồng mới, có đất, có thủy lợi, có tổ chức làng xã ngay từ đầu.

Cái khó nhất: biến đất mặn thành ruộng lúa

Người đi khẩn hoang ở bãi biển phải đối mặt với một kẻ thù không nhìn thấy: muối trong đất. Đất bãi mới bồi ngấm nước biển, nếu cấy lúa ngay thì lúa chết. Cách duy nhất là cắt nguồn nước mặn bằng đê, rồi dùng nước ngọt từ sông dẫn qua kênh để rửa dần muối và chua trong đất. Quá trình này mất nhiều năm, và chỉ cần đê vỡ một lần là công sức đổ đi.

Vì vậy trong những năm đầu, cây trồng chủ yếu là cói, loại cây chịu mặn, vừa giúp giữ đất vừa có sản phẩm để bán, làm chiếu, làm bao. Nghề cói và nghề làm chiếu ở vùng ven biển Thái Bình có gốc rễ từ chính quá trình khai hoang này. Song song, người dân nấu muối, đánh bắt ven bờ để sống qua giai đoạn chờ đất ngọt.

Khi đất đã ngọt dần, ruộng được chuyển sang cấy lúa, thường bắt đầu từ những ô gần kênh nước ngọt rồi lan ra. Kinh nghiệm phân biệt đất đã cấy được hay chưa, đắp bờ vùng bờ thửa, giữ nước, tháo chua được truyền qua nhiều thế hệ, trở thành tri thức canh tác riêng của người vùng bãi. Đến nay, ở các xã sát biển vẫn có những cánh đồng phải theo dõi độ mặn mỗi mùa khô.

Những làng được lập theo kế hoạch

Khác với làng cổ ở vùng đồng trong, vốn hình thành tự nhiên qua nhiều thế kỷ, làng ở Tiền Hải được lập cùng lúc, theo một khuôn. Điều đó để lại dấu vết dễ thấy đến ngày nay: đường làng tương đối thẳng, ruộng chia ô khá đều, các làng nằm theo dải song song với bờ biển, mỗi lớp làng là một đợt mở đất.

Tên làng, tên xã ở Tiền Hải cũng mang dấu vết kế hoạch. Nhiều xã cũ bắt đầu bằng chữ chỉ hướng như Đông, Tây, Nam: Đông Cơ, Đông Lâm, Đông Minh, Tây Giang, Tây Lương, Nam Thịnh, Nam Cường, Nam Hải. Chữ thứ hai thường là chữ đẹp, chúc phúc. Cách đặt tên này giúp người quản lý dễ phân biệt các nhóm làng theo vị trí trong vùng khẩn hoang.

Người đến khai hoang đến từ nhiều nơi trong vùng châu thổ, nên phong tục ở Tiền Hải là một sự pha trộn. Một số dòng họ còn giữ gia phả ghi nơi tổ tiên ra đi trước khi về bãi biển. Với người tìm hiểu nguồn gốc dòng họ ở vùng này, gia phả và văn bia đình làng là tư liệu đáng quý.

Nguyễn Công Trứ trong ký ức người Tiền Hải

Nguyễn Công Trứ là một nhân vật nhiều mặt: quan văn, tướng, nhà thơ với những bài hát nói nổi tiếng, và người tổ chức khẩn hoang. Ở Tiền Hải và Kim Sơn, ông được nhớ trước hết như người mở đất. Người dân lập nơi thờ ông, tổ chức giỗ hằng năm, coi ông là người có công khai sáng vùng đất.

Hình ảnh ông trong ký ức địa phương gắn với sự tận tụy: đi bộ khảo sát bãi, cùng dân đắp đê, sống gần dân trong những năm đầu. Một phần những câu chuyện ấy là truyền thuyết, được kể lại qua nhiều thế hệ, khó kiểm chứng chi tiết. Nhưng điều không ai tranh cãi là huyện Tiền Hải ra đời từ cuộc khẩn hoang do ông chủ trì.

Cuộc đời quan trường của Nguyễn Công Trứ nhiều thăng trầm, bị giáng chức rồi lại được dùng nhiều lần. Ông sống thọ và để lại nhiều tác phẩm văn chương. Với người Thái Bình, ông là một trong số ít danh nhân không sinh ra ở vùng đất này mà vẫn được coi là người của vùng đất này.

Sau năm 1828: lấn biển không dừng lại

Khẩn hoang năm 1828 chỉ là khởi đầu. Biển tiếp tục bồi, và các thế hệ sau tiếp tục đắp những tuyến đê mới ra phía ngoài, biến bãi thành ruộng, ruộng cũ thành làng. Những tuyến đê cũ nằm sâu trong nội đồng ngày nay là dấu vết của các đợt mở đất trước, có đoạn đã thành đường làng.

Trong thế kỷ hai mươi, người Tiền Hải và Thái Thụy tiếp tục quai đê lấn biển ở các cồn bãi như vùng Cồn Vành. Đất mới dùng để nuôi thủy sản, trồng cói, làm muối, rồi một phần thành ruộng. Cách làm hiện đại khác thời Nguyễn Công Trứ ở công cụ và quy mô, nhưng ý tưởng vẫn vậy: giành đất từ biển bằng đê.

Ngày nay, việc lấn biển được cân nhắc kỹ hơn vì vai trò của rừng ngập mặn trong việc chắn sóng, giữ đất, nuôi nguồn lợi thủy sản. Nhiều vùng bãi ngoài đê được giữ làm rừng thay vì khai thác. Phần này được trình bày kỹ trong các bài về sông, đê và vùng cồn bãi trên trang.

Tiền Hải xưa và nay

Một vài so sánh để hình dung vùng đất qua gần hai thế kỷ:

Đầu thế kỷ 19Trước 2025Từ 1/7/2025
Cảnh quanBãi lầy, cói, sú vẹt, nước mặn theo triềuRuộng lúa, đồng muối, ao nuôi, rừng ngập mặn ngoài đêNhư trước, thêm khu công nghiệp và khu dân cư mới
Đơn vị hành chínhChưa có, đất bãiHuyện Tiền Hải, 28 xã, thị trấn8 xã của tỉnh Hưng Yên
Kinh tế chínhChài lưới, nấu muối nhỏ lẻLúa, muối, thủy sản, khí, vật liệu xây dựngTương tự, gắn với khu kinh tế ven biển
Tên gọiVùng bãi biểnTiền HảiXã Tiền Hải và các xã Đông, Tây, Nam Tiền Hải, Đồng Châu, Nam Cường, Hưng Phú, Ái Quốc

Bảng trên chỉ phác những nét lớn. Điều đáng nói là trong gần hai thế kỷ, vùng đất này đi từ chỗ chưa có tên trên sổ sách đến chỗ có mỏ khí, khu công nghiệp, cảng cá và hàng chục nghìn hộ dân. Ít vùng nào ở đồng bằng Bắc Bộ có lịch sử khai phá được ghi lại rõ ràng như vậy.

Năm 2025, tám xã mới vẫn giữ dấu vết khẩn hoang trong tên: ba xã mang chữ chỉ hướng ghép với Tiền Hải, xã Nam Cường giữ tên một xã cũ đặt theo lối khẩn hoang, xã Đồng Châu lấy tên vùng bãi biển quen thuộc. Người Tiền Hải vì vậy vẫn nhận ra quê mình trên giấy tờ mới.

Câu hỏi thường gặp

Huyện Tiền Hải được thành lập năm nào?

Huyện Tiền Hải được lập năm 1828, sau cuộc khẩn hoang do Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ tổ chức dưới triều Minh Mạng. Huyện tồn tại đến hết ngày 30/6/2025; từ 1/7/2025 vùng đất này chia thành tám xã của tỉnh Hưng Yên.

Tiền Hải nghĩa là gì?

Tiền Hải là từ Hán Việt, nghĩa là phía trước biển. Tên gọi phản ánh vị trí và nguồn gốc của vùng đất: đất bãi mới bồi ở mép biển, được khẩn hoang để lập làng, lập huyện vào đầu thế kỷ mười chín.

Nguyễn Công Trứ còn khẩn hoang ở đâu nữa?

Cùng thời kỳ đó, ông tổ chức khẩn hoang và lập huyện Kim Sơn ở vùng ven biển Ninh Bình. Hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn nằm ở hai bên cửa sông Hồng và các sông lân cận, đều là đất bãi bồi của châu thổ.

Ở Tiền Hải có nơi thờ Nguyễn Công Trứ không?

Có. Người dân Tiền Hải lập nơi thờ và tổ chức giỗ ông hằng năm để ghi nhớ công mở đất. Địa điểm cụ thể và lịch giỗ nên hỏi người dân hoặc chính quyền xã nơi có di tích, vì sau năm 2025 tên xã đã thay đổi.

Vì sao tên nhiều xã ở Tiền Hải bắt đầu bằng Đông, Tây, Nam?

Vì làng ở đây được lập theo kế hoạch trong các đợt khẩn hoang, và người quản lý dùng chữ chỉ hướng để phân biệt các nhóm làng theo vị trí. Năm 2025 cách đặt tên này được tiếp nối với các xã Đông Tiền Hải, Tây Tiền Hải, Nam Tiền Hải.

Đất Tiền Hải có còn mở rộng ra biển không?

Bờ biển vẫn biến động theo bồi và xói, có đoạn bồi ra, có đoạn bị sóng lấn vào. Việc quai đê lấn biển ngày nay được cân nhắc kỹ vì cần giữ rừng ngập mặn chắn sóng. Thông tin cụ thể về các dự án ven biển nên tra từ cơ quan quản lý của tỉnh.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.