Trước năm 1890, vùng đất Thái Bình không phải một tỉnh riêng. Thời Lê, cả vùng nằm trong trấn Sơn Nam, sau thuộc Sơn Nam hạ; đến thời Nguyễn, phần lớn thuộc tỉnh Nam Định, còn một dải phía tây bắc thuộc Hưng Yên. Bên dưới cấp tỉnh là các phủ như Thái Bình, Kiến Xương, Tiên Hưng, rồi đến huyện, tổng và xã.
Câu hỏi này không chỉ có ý nghĩa lịch sử. Rất nhiều người đang tìm quê gốc qua gia phả, văn bia, sắc phong, địa bạ, và trong những giấy tờ đó địa chỉ ghi theo kiểu "xã… tổng… huyện… phủ… tỉnh Nam Định". Đọc đúng chuỗi địa danh ấy là bước đầu để tìm về đúng làng.
Bài này giải thích các tầng hành chính cũ, vì sao Thái Bình xưa lại "thuộc Nam Định", cách chuyển một địa chỉ cổ sang địa danh ngày nay, và những nguồn tư liệu có thể dùng.
Vùng Thái Bình thuộc đơn vị nào qua các thời
Bảng dưới là khung đơn giản hoá; ranh giới cụ thể từng thời có điều chỉnh và các tài liệu đôi khi ghi khác nhau về năm:
| Thời kỳ | Vùng Thái Bình thuộc | Ghi chú |
|---|---|---|
| Thời Lý, Trần | Các lộ, phủ ở hạ lưu sông Hồng, trong đó có Long Hưng | Vùng ven biển phần lớn còn là bãi bồi |
| Thời Lê | Thừa tuyên, sau là trấn Sơn Nam | Có các phủ Thái Bình, Kiến Xương, Tiên Hưng |
| Cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn | Trấn Sơn Nam hạ | Sơn Nam chia làm thượng và hạ |
| Từ cải cách thời Minh Mạng | Phần lớn thuộc tỉnh Nam Định, dải tây bắc thuộc Hưng Yên | Năm 1828 lập thêm huyện Tiền Hải trên đất khẩn hoang |
| Từ năm 1890 | Tỉnh Thái Bình | Tách khỏi Nam Định, nhận thêm đất của Hưng Yên |
| Từ 1/7/2025 | Tỉnh Hưng Yên | Hợp nhất với Hưng Yên, bỏ cấp huyện |
Điều dễ thấy nhất từ bảng là vùng đất này nhiều thế kỷ đi chung với Nam Định ở bên kia sông Hồng, chỉ hơn 135 năm đứng riêng, rồi nay đi chung với Hưng Yên ở bên kia sông Luộc.
Trấn Sơn Nam: một vùng rộng phía nam kinh thành
Thời Lê, vùng đồng bằng phía nam và đông nam Thăng Long được gọi chung là Sơn Nam, theo nghĩa chữ là phía nam núi. Trấn Sơn Nam rất rộng, bao trùm đất của Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên ngày nay. Đây là vùng lúa nước trù phú bậc nhất, cung cấp lương thực và người cho triều đình.
Vì quá rộng, về sau trấn Sơn Nam được chia làm hai: Sơn Nam thượng ở phía gần kinh thành và Sơn Nam hạ ở phía xuôi về biển. Vùng Thái Bình chủ yếu thuộc Sơn Nam hạ, cùng với Nam Định. Trung tâm của Sơn Nam hạ đặt ở vùng Vị Hoàng, sau này là thành Nam Định, bên kia sông Hồng.
Cái tên Sơn Nam chưa biến mất. Năm 2025, tỉnh Hưng Yên mới có một phường mang tên Sơn Nam ở vùng Hưng Yên cũ. Như vậy cả cái tên vùng cổ lẫn vùng đất Thái Bình đều có mặt trong cùng một tỉnh, theo một cách mà người xưa khó hình dung.
Vì sao Thái Bình xưa "thuộc Nam Định"
Nhiều người ngạc nhiên khi đọc gia phả thấy ông bà tổ tiên ở Kiến Xương, Thư Trì, Thụy Anh mà lại ghi "tỉnh Nam Định". Lý do là trong cải cách hành chính thời vua Minh Mạng, trấn Sơn Nam hạ được đổi thành tỉnh Nam Định, và toàn bộ vùng phía bắc sông Hồng thuộc Sơn Nam hạ đi theo. Từ đó tới năm 1890, phủ Thái Bình và phủ Kiến Xương là phủ của Nam Định.
Sông Hồng khi ấy không phải đường ranh mà là trục chính của tỉnh. Người hai bờ đi lại bằng đò, thuyền; quan lại, thi cử, kiện tụng đều tìm về tỉnh lỵ Nam Định. Những gắn bó đó giải thích vì sao văn hoá, giọng nói, phong tục của vùng Thái Bình và Nam Định có nhiều nét gần nhau, từ hát chèo đến các món ăn.
Riêng dải đất phía tây bắc, gồm vùng Thần Khê và các huyện thuộc phủ Tiên Hưng, lại thuộc Hưng Yên. Vì vậy cùng là người vùng Hưng Hà cũ, gia phả nhà này có thể ghi Nam Định, nhà kia ghi Hưng Yên, tuỳ làng nằm bên nào của ranh giới cũ. Khi tra cứu, đừng vội cho rằng gia phả ghi sai.
Một nguồn nhầm lẫn nữa là thời điểm viết gia phả. Gia phả thường được chép lại qua nhiều đời, mỗi lần chép người ta có thể cập nhật địa chỉ theo đơn vị hành chính đương thời hoặc giữ nguyên bản cũ. Vì vậy cùng một dòng họ, bản chép thời Nguyễn ghi Nam Định, bản chép thế kỷ hai mươi ghi Thái Bình, bản mới chép gần đây có thể ghi Hưng Yên. Xem năm chép trước khi đọc địa chỉ là thói quen tốt.
Phủ, huyện, tổng, xã: bốn tầng dưới tỉnh
Thời Nguyễn, dưới tỉnh có phủ, dưới phủ có huyện, dưới huyện có tổng, dưới tổng là xã. Phủ là đơn vị lớn gồm vài huyện; huyện là nơi có quan huyện xử việc hằng ngày; tổng là tầng trung gian gồm vài xã, do chánh tổng đứng đầu, lo thu thuế và giữ trật tự; xã là đơn vị cơ sở, tự quản theo hương ước.
Xã thời phong kiến khác xã ngày nay. Một xã xưa thường tương đương một làng lớn hoặc vài làng nhỏ, có đình, có ruộng công, có lệ làng riêng. Xã ngày nay, nhất là sau 2025, có thể gồm hàng chục làng cũ. Vì vậy "xã Đông Cơ" trong gia phả là một làng hay một nhóm làng nhỏ, không phải cả xã Đồng Châu bây giờ.
Tầng tổng đã bị bỏ từ giữa thế kỷ hai mươi, nên người trẻ ít biết. Nhưng trong giấy tờ cũ, tên tổng rất hữu ích: nó cho biết làng nằm gần những làng nào, giúp phân biệt hai làng trùng tên ở hai nơi khác nhau. Một số tên tổng về sau trở thành tên xã, và có tên tiếp tục được dùng cho xã mới năm 2025.
Trên thực tế, đời sống người dân xoay quanh làng nhiều hơn các tầng trên. Làng có ranh giới bằng lũy tre, có cổng, có đình, có ngày hội riêng; người ta xưng là người làng nào trước khi xưng là người huyện nào. Thói quen ấy còn rõ ở vùng Thái Bình cũ đến hôm nay, và là lý do tên làng vẫn là chìa khoá tìm quê gốc đáng tin nhất.
Chuyển một địa chỉ trong gia phả sang địa danh ngày nay
Lấy ví dụ giả định một dòng gia phả ghi: "xã A, tổng B, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương, tỉnh Nam Định". Các bước tra như sau:
- Xác định vùng lớn từ tên phủ, huyện. Huyện Thư Trì trước năm 1969 nhập với Vũ Tiên thành Vũ Thư, vậy làng nằm trong vùng Vũ Thư cũ.
- Tìm tên xã cổ trong danh mục xã của huyện cũ. Tên làng cổ thường còn là tên thôn ngày nay. Hỏi người cao tuổi trong vùng hoặc tra sách địa chí huyện.
- Đối chiếu với xã trước năm 2025. Tìm xem thôn đó thuộc xã nào của huyện Vũ Thư trước khi bỏ cấp huyện.
- Tra xã mới. Dùng bảng đối chiếu xã cũ, xã mới để biết xã đó nay thuộc xã nào của tỉnh Hưng Yên, ví dụ xã Thư Trì hay xã Vũ Tiên.
- Xác minh tại chỗ. Liên hệ ban quản lý đình, nhà thờ họ, hoặc người trông coi văn bia của làng; các văn bản tại chỗ thường ghi tên làng cổ đúng nhất.
Tên xã A và tổng B ở đây chỉ là ví dụ giả định. Với gia phả thật, mỗi bước có thể tốn thời gian, nhưng chuỗi phủ, huyện, tổng trong giấy tờ cũ là manh mối rất chắc chắn nếu đọc đúng.
Những nguồn tư liệu nên biết
Có vài loại tư liệu thường dùng để tìm hiểu địa danh cũ vùng Thái Bình. Thứ nhất là các bộ địa chí lớn của triều Nguyễn như Đại Nam nhất thống chí và Đồng Khánh dư địa chí, có mô tả phủ huyện, sông ngòi, đình chùa của từng tỉnh. Phần về Nam Định và Hưng Yên chứa nhiều thông tin về đất Thái Bình trước 1890.
Thứ hai là tư liệu tại làng: địa bạ ghi ruộng đất từng xã, hương ước, văn bia ở đình chùa, sắc phong thần, gia phả các dòng họ. Những tư liệu này ghi tên làng cổ và tên tổng rất cụ thể. Một số đã được các cơ quan nghiên cứu sưu tầm, dịch và công bố; một số vẫn được làng cất giữ.
Thứ ba là các bộ địa chí, lịch sử địa phương do tỉnh, huyện biên soạn trong những thập kỷ gần đây, có danh mục tên làng cổ và tên xã qua các thời. Khi dùng tài liệu trên mạng, bạn nên ưu tiên bài có ghi rõ nguồn, và đối chiếu ít nhất hai nguồn trước khi tin một mốc năm hay một tên gọi.
Một vùng đất trẻ với lớp lịch sử dày
So với vùng trung du hay vùng ven núi, đất Thái Bình trẻ hơn nhiều về địa chất: phần lớn do phù sa bồi đắp, càng ra phía biển càng mới. Các làng cổ nhất tập trung ở phía tây bắc và dọc sông Hồng, nơi đất cao và bồi sớm. Càng về phía đông, làng càng mới, cho tới vùng Tiền Hải chỉ hơn hai trăm năm tuổi.
Tuy vậy, trên mảnh đất trẻ ấy, các lớp lịch sử chồng lên nhau rất dày: sứ quân Trần Lãm thế kỷ thứ mười, đất phát tích nhà Trần thế kỷ mười ba, các phủ huyện thời Lê, cuộc khẩn hoang thời Nguyễn, tỉnh mới thời Pháp, những lần nhập huyện thế kỷ hai mươi và lần hợp nhất năm 2025. Mỗi lớp để lại một vài cái tên, và nhiều cái tên vừa được dùng lại trên giấy tờ mới.
Vì vậy khi trả lời câu hỏi "Thái Bình trước kia thuộc đâu", câu trả lời đúng nhất là: tuỳ thời và tuỳ làng. Một làng ở Hưng Hà và một làng ở Tiền Hải có lịch sử hành chính khác nhau, và chính sự khác nhau đó làm nên bản sắc riêng của từng vùng trong cùng một miền quê lúa.
Câu hỏi thường gặp
Thái Bình trước đây thuộc tỉnh nào?
Trước năm 1890, phần lớn vùng đất Thái Bình thuộc tỉnh Nam Định thời Nguyễn, một dải phía tây bắc thuộc Hưng Yên. Thời Lê, cả vùng nằm trong trấn Sơn Nam, sau là Sơn Nam hạ. Từ 1890 đến 2025 là tỉnh Thái Bình, nay thuộc tỉnh Hưng Yên.
Sơn Nam hạ gồm những vùng nào?
Sơn Nam hạ là phần phía xuôi của trấn Sơn Nam cũ, gồm phần lớn đất Nam Định và Thái Bình ngày nay, trung tâm ở vùng thành Nam Định. Trong cải cách thời Minh Mạng, Sơn Nam hạ được đổi thành tỉnh Nam Định.
Tổng là đơn vị gì trong giấy tờ cũ?
Tổng là cấp hành chính trung gian giữa huyện và xã thời phong kiến và thời Pháp thuộc, gồm vài xã gần nhau, do chánh tổng đứng đầu. Cấp tổng bị bãi bỏ từ giữa thế kỷ hai mươi, nhưng tên tổng trong gia phả giúp xác định vị trí làng rất chính xác.
Gia phả ghi tỉnh Nam Định nhưng gia đình ở Thái Bình, có sai không?
Không sai. Nếu gia phả được viết trước năm 1890, vùng đất khi ấy thuộc tỉnh Nam Định. Một số làng ở vùng tây bắc lại thuộc Hưng Yên. Cần đọc cả chuỗi phủ, huyện để định vị đúng làng ngày nay.
Phủ Kiến Xương gồm những vùng nào?
Phủ Kiến Xương thời Nguyễn nằm ở phía nam vùng Thái Bình, gồm một số huyện như Thư Trì, Vũ Tiên và các huyện ven sông Hồng, về sau thêm Tiền Hải. Ranh giới cụ thể từng thời có thay đổi, nên khi cần chính xác hãy tra địa chí.
Ở đâu có thể xem địa bạ, văn bia của làng ở Thái Bình cũ?
Văn bia thường còn ở đình, chùa, nhà thờ họ của làng. Một số địa bạ, văn bia đã được các viện nghiên cứu Hán Nôm và cơ quan lưu trữ sưu tầm. Bắt đầu từ ban quản lý di tích hoặc người cao tuổi trong làng là cách nhanh nhất.