Một làng được công nhận là làng nghề truyền thống khi vừa đạt tiêu chí làng nghề (đủ số hộ tham gia, sản xuất ổn định, đáp ứng điều kiện môi trường) vừa có ít nhất một nghề đạt tiêu chí nghề truyền thống (có từ lâu đời ở địa phương, sản phẩm mang bản sắc, gắn với nghệ nhân hoặc tên làng). Việc công nhận do cấp tỉnh xem xét theo quy định về phát triển ngành nghề nông thôn.
Danh hiệu là một chuyện, giữ được nghề là chuyện khác. Ở vùng Thái Bình cũ, nhiều làng có tên tuổi lâu đời đang đối mặt với cùng một câu hỏi: ai sẽ làm nghề khi lớp trẻ đi khu công nghiệp, đi thành phố, đi nước ngoài.
Bài này giải thích ngắn gọn các tiêu chí công nhận, danh hiệu nghệ nhân, rồi đi vào những sức ép thật mà làng nghề đang gặp và các cách mà người làng đã thử để giữ nghề. Các con số, ngưỡng trong quy định có thể thay đổi; bạn nên kiểm văn bản hiện hành khi cần dùng cho hồ sơ.
Tiêu chí: nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống
Theo Nghị định 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn, ba khái niệm được phân biệt như sau (tóm lược, nên đọc văn bản gốc và các văn bản sửa đổi nếu có):
| Khái niệm | Tiêu chí chính | Ý nghĩa thực tế |
|---|---|---|
| Nghề truyền thống | Đã xuất hiện ở địa phương từ khoảng 50 năm trở lên; sản phẩm mang bản sắc văn hoá; gắn với tên tuổi nghệ nhân hoặc tên làng | Là "hạt nhân" để một làng được công nhận làng nghề truyền thống |
| Làng nghề | Có tỷ lệ hộ tham gia ngành nghề nông thôn đạt mức quy định (khoảng 20% tổng số hộ); sản xuất ổn định liên tục một thời gian; đáp ứng điều kiện bảo vệ môi trường | Không bắt buộc nghề phải lâu đời |
| Làng nghề truyền thống | Đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống | Danh hiệu được nhắc nhiều nhất khi giới thiệu làng |
Hồ sơ công nhận thường do làng, xã chuẩn bị, qua cấp có thẩm quyền thẩm định, rồi Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Từ tháng 7/2025, các làng nghề của Thái Bình cũ thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Hưng Yên.
Một chi tiết hay bị hiểu nhầm: danh hiệu làng nghề không phải giấy phép. Làng chưa được công nhận vẫn làm nghề bình thường; danh hiệu chủ yếu giúp làng được chú ý trong quy hoạch, hỗ trợ và quảng bá.
Danh hiệu nghệ nhân: ai được gọi là nghệ nhân
Trong đời thường, người ta gọi "nghệ nhân" cho bất kỳ ai làm nghề lâu năm, giỏi tay. Về mặt danh hiệu chính thức, Nhà nước có các danh hiệu như Nghệ nhân nhân dân, Nghệ nhân ưu tú, xét tặng cho người có công giữ gìn và truyền dạy nghề thủ công, di sản văn hoá. Ngoài ra còn có danh hiệu nghệ nhân do cấp tỉnh hoặc các hiệp hội ngành nghề trao.
Tiêu chí xét thường gồm tay nghề, số năm làm nghề, có tác phẩm, sản phẩm tiêu biểu, có truyền dạy cho người khác. Điều đáng chú ý là tiêu chí truyền dạy: danh hiệu không chỉ ghi nhận người làm giỏi mà ghi nhận người giữ cho nghề không đứt.
Ở các làng nghề vùng Thái Bình cũ, những người được gọi là nghệ nhân thường là người đã làm nghề cả đời, có học trò, có sản phẩm được biết đến. Gặp họ trong làng, bạn sẽ thấy họ vẫn ngồi làm như mọi người thợ khác; danh hiệu treo trên tường, còn tay thì vẫn ở trên bàn thợ.
Danh hiệu cũng tạo ra một trách nhiệm: người được công nhận thường được mời dạy nghề, tham gia hội chợ, làm mẫu cho các dự án bảo tồn. Với làng, có nghệ nhân được công nhận là một niềm tự hào chung và là chỗ dựa khi làm hồ sơ công nhận làng nghề.
Sức ép thứ nhất: người trẻ rời nghề
Khu công nghiệp ngay cạnh làng. Từ khi các khu công nghiệp mọc lên trong tỉnh cũ, người trẻ có việc làm lương tháng ổn định, có bảo hiểm, không phụ thuộc vào đơn hàng. So với nghề làng thu nhập lúc lên lúc xuống, lựa chọn ấy dễ hiểu.
Thời gian học nghề dài. Chạm bạc, thêu tranh, dệt hoa văn cần nhiều năm mới thạo. Trong thời gian học, thu nhập thấp. Ít người trẻ đủ kiên nhẫn và điều kiện để đi hết con đường ấy.
Đi làm xa. Thái Bình là quê có nhiều người đi làm ăn xa, trong nước và ngoài nước. Lực lượng lao động trẻ của nhiều làng mỏng đi, kéo theo số người theo nghề giảm.
Hình ảnh nghề. Nghề làng đôi khi bị coi là việc vất vả, kém sang so với công việc văn phòng. Thay đổi cách nhìn này cần thời gian và cần những người trẻ thành công với nghề làm gương.
Sức ép thứ hai: đô thị hoá, môi trường và thị trường
Đất làng thu hẹp. Khi làng đông lên, nhà cao lên, sân phơi, ao, bãi dâu, ruộng cói nhường chỗ cho nhà ở và đường sá. Những nghề cần mặt bằng phơi phóng chịu ảnh hưởng trước tiên.
Ô nhiễm làng nghề. Một số khâu như nhuộm, hồ sợi, xử lý kim loại tạo nước thải, khói, tiếng ồn. Sống chung với sản xuất ngay trong khu dân cư gây xung đột giữa các hộ làm nghề và hộ không làm. Đây cũng là tiêu chí mà quy định về làng nghề yêu cầu phải đáp ứng.
Hàng công nghiệp cạnh tranh. Chiếu nhựa, vải công nghiệp, đồ ép khuôn, bánh kẹo đóng gói lớn rẻ hơn và tiện hơn. Hàng làng phải tìm chỗ đứng ở phân khúc khác: chất lượng, câu chuyện, tính thủ công.
Phụ thuộc người thu gom. Nhiều hộ không bán trực tiếp mà qua người thu gom, nên ít biết người mua cuối cần gì, khó tự điều chỉnh mẫu mã và giá.
Những cách người làng đã thử để giữ nghề
Không có công thức chung, nhưng có vài hướng lặp lại ở nhiều làng. Hướng thứ nhất là làm sản phẩm mới trên nền kỹ thuật cũ: thợ chạm làm tranh đồng, đồ trang sức thay vì chỉ làm đồ thờ; làng cói làm túi, hộp, đồ nội thất; làng thêu nhận thêu theo ảnh riêng. Kỹ thuật được giữ, sản phẩm thì hợp với người mua hôm nay.
Hướng thứ hai là đưa máy vào những khâu nặng nhọc, giữ tay người ở những khâu quyết định chất lượng. Làng dệt dùng máy dệt, làng bánh dùng máy rang và lò sấy, nhưng nấu mật, chạm chi tiết, thêu chuyển màu vẫn là việc của tay. Nhờ vậy năng suất tăng mà nghề không mất chất.
Hướng thứ ba là bán trực tiếp: người trẻ trong làng tự chụp ảnh, tự viết giới thiệu, bán qua mạng, nhận đơn từ xa. Cách này giúp hộ làm nghề hiểu người mua hơn và giữ phần lợi nhuận lớn hơn. Cũng có hướng gắn làng nghề với tham quan, để người ngoài đến xem và mua tại chỗ, dù ở vùng Thái Bình cũ hướng này còn ở mức nhỏ.
Truyền nghề hôm nay khác xưa thế nào
Xưa, nghề truyền trong nhà, trong họ, có khi giữ bí quyết không truyền cho người ngoài, thậm chí không truyền cho con gái vì sợ nghề theo chồng sang làng khác. Lối truyền nghề khép kín ấy giữ được chất riêng của từng làng, nhưng cũng làm nghề dễ đứt khi nhà không có người nối.
Ngày nay, cách truyền nghề cởi mở hơn. Có xưởng nhận học việc là người ngoài làng; có lớp dạy nghề do địa phương tổ chức; có người trẻ học mỹ thuật, thiết kế rồi về làng làm nghề. Kiến thức được ghi chép, chụp ảnh, quay video nhiều hơn, không chỉ nằm trong trí nhớ của người già.
Điều không đổi là thời gian. Dù học bằng cách nào, tay nghề vẫn chỉ đến sau nhiều năm làm thật. Những người thợ già trong làng thường nói: dạy thì dạy được, nhưng ngồi được bao lâu là ở người học.
Cũng có những nghề đang được cứu kịp thời nhờ ghi chép: các làn kỹ thuật, các mẫu cổ, cách pha nhựa trám, cách nấu mật được người trong làng tự ghi lại, chụp ảnh, quay phim. Những tư liệu ấy có thể chưa đẹp, chưa đầy đủ, nhưng là tấm lưới an toàn cho nghề khi người già không còn.
Làng nghề sau khi tỉnh cũ nhập vào Hưng Yên
Từ tháng 7/2025, Thái Bình và Hưng Yên hợp nhất thành tỉnh Hưng Yên mới. Các làng nghề của hai vùng giờ cùng một đơn vị quản lý cấp tỉnh: phía Hưng Yên cũ có những làng nghề riêng của vùng mình, phía Thái Bình cũ có chạm bạc, chiếu cói, dệt, thêu, bánh cáy. Danh mục làng nghề, các chương trình hỗ trợ và quảng bá sẽ được rà soát lại theo địa giới mới.
Với người làm nghề, thay đổi trước mắt là địa chỉ trên giấy tờ, trên bao bì, trên hồ sơ đăng ký kinh doanh. Tên làng không đổi, nhưng tên xã, tên tỉnh trong địa chỉ thì đổi, nên các cơ sở cần cập nhật thông tin khi in nhãn mới, khi làm hồ sơ. Thủ tục cụ thể nên hỏi cơ quan đăng ký kinh doanh của tỉnh và kiểm quy định hiện hành.
Về lâu dài, việc hai vùng có nhiều làng nghề về chung một tỉnh có thể mở ra cách quảng bá theo tuyến, ví dụ một hành trình làng nghề nối từ phía bắc Hưng Yên cũ xuống vùng biển Thái Bình cũ. Còn làm được đến đâu thì phụ thuộc vào cách tổ chức trong những năm tới.
Người đọc có thể làm gì cho làng nghề
Không cần là nhà đầu tư hay cán bộ văn hoá, người bình thường cũng có thể góp một phần nhỏ. Mua hàng làng nghề khi cần, mua trực tiếp từ người làm khi có thể, và trả giá công bằng với công sức bỏ ra. Khi tặng quà, chọn một món đồ thủ công có câu chuyện thay vì món công nghiệp vô danh.
Khi đi thăm làng nghề, hãy đi như một vị khách tôn trọng: hỏi han, lắng nghe, không làm phiền. Nếu bạn là người quê Thái Bình đi xa, kể cho người khác nghe về làng nghề quê mình, giới thiệu sản phẩm cho bạn bè đồng nghiệp, đó cũng là cách giữ nghề. Và nếu bạn là người trẻ trong một gia đình có nghề, có thể thử ngồi cạnh cha mẹ, ông bà trong một mùa làm hàng; nhiều người đã quay lại với nghề bắt đầu chỉ từ một mùa như vậy.
Câu hỏi thường gặp
Làng nghề và làng nghề truyền thống khác nhau thế nào?
Làng nghề là làng có đủ tỷ lệ hộ tham gia ngành nghề, sản xuất ổn định và đáp ứng điều kiện môi trường, nghề không cần lâu đời. Làng nghề truyền thống thì ngoài các tiêu chí đó còn phải có ít nhất một nghề truyền thống, tức nghề có từ lâu ở địa phương và mang bản sắc.
Ai công nhận làng nghề truyền thống?
Theo quy định về phát triển ngành nghề nông thôn, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét và quyết định công nhận dựa trên hồ sơ do địa phương lập. Với các làng nghề vùng Thái Bình cũ, từ tháng 7/2025 thẩm quyền này thuộc tỉnh Hưng Yên.
Làng chưa được công nhận có được làm nghề không?
Có. Danh hiệu làng nghề không phải giấy phép sản xuất. Các hộ vẫn làm nghề bình thường và tuân thủ quy định chung về kinh doanh, an toàn thực phẩm, môi trường. Danh hiệu chủ yếu giúp làng được chú ý trong hỗ trợ và quảng bá.
Nghệ nhân nhân dân và nghệ nhân ưu tú khác nhau ra sao?
Đây là hai mức danh hiệu Nhà nước xét tặng cho người có công giữ gìn, truyền dạy nghề thủ công và di sản văn hoá, trong đó Nghệ nhân nhân dân là mức cao hơn. Tiêu chí cụ thể về thời gian làm nghề, tác phẩm và học trò được quy định trong văn bản riêng.
Ô nhiễm ở làng nghề được xử lý thế nào?
Hướng phổ biến là đưa khâu gây ô nhiễm vào cụm công nghiệp làng nghề có hệ thống xử lý chung, cải tiến công nghệ để giảm nước thải, khói bụi, và tách nơi sản xuất khỏi nơi ở. Mức độ làm được phụ thuộc vào nguồn lực từng địa phương và sự đồng thuận của các hộ.