Thái Bình được gọi là quê hương chèo vì đây là một trong những vùng chèo lâu đời và dày đặc nhất của đồng bằng Bắc Bộ, thuộc chiếng chèo Nam, với nhiều làng có phường chèo riêng như làng Khuốc ở Đông Hưng cũ. Chèo ở đây gắn với sân đình, với hội làng, với những đêm diễn sau mùa gặt, trước khi có sân khấu chuyên nghiệp.
Chèo là sân khấu dân gian kết hợp hát, múa, diễn và nhạc, kể những câu chuyện về đạo lý, tình cảm, chuyện làng, có cả tiếng cười châm biếm của vai hề. Câu "trống chèo bà già cũng nhảy" cho thấy chèo từng thấm vào đời sống làng quê đến mức nào.
Bài này giải thích chiếng chèo, đặc điểm chèo sân đình, làng chèo Khuốc, các vai và làn điệu cơ bản, những vở chèo cổ nên biết, và chèo vùng Thái Bình cũ hôm nay sống ra sao.
Chiếng chèo: chèo có "vùng", và Thái Bình thuộc chiếng Nam
Người làm chèo xưa chia chèo đồng bằng Bắc Bộ thành bốn chiếng: chiếng Đông, chiếng Đoài, chiếng Nam và chiếng Bắc, gọi chung là tứ chiếng. Mỗi chiếng có phong cách riêng về giọng hát, cách diễn, làn điệu ưa dùng. Thái Bình thuộc chiếng chèo Nam, cùng với các vùng lân cận phía nam châu thổ.
Chèo chiếng Nam thường được nhận xét là mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói nông thôn, hát chân chất, diễn gần gũi. Đó là chèo của những đêm diễn trên chiếu trải ở sân đình, khán giả ngồi quanh, nghệ nhân là chính người làng sau buổi làm đồng.
Về nguồn gốc, chèo được cho là hình thành từ rất sớm ở đồng bằng sông Hồng. Dân gian còn lưu truyền chuyện bà Phạm Thị Trân thời Đinh được tôn là bà tổ của nghề hát. Dù chi tiết lịch sử còn nhiều bàn luận, điều chắc chắn là chèo đã gắn với làng quê Bắc Bộ nhiều thế kỷ trước khi có mặt trên sân khấu thành thị.
Chiếu chèo sân đình
Sân khấu chèo truyền thống đơn giản đến bất ngờ: một chiếc chiếu trải giữa sân đình. Phía sau chiếu là buồng trò, nơi diễn viên thay trang phục; hai bên là dàn nhạc. Khán giả ngồi ba mặt quanh chiếu. Vì vậy người ta nói "chiếu chèo" như một đơn vị biểu diễn, và các phường chèo đi diễn ở làng khác gọi là "đi chiếu".
Sân khấu không cảnh trí, nên mọi thứ phải diễn bằng ước lệ: một vòng đi quanh chiếu là đã qua một chặng đường dài, một cái quạt có thể là cái bút, cái chén, cánh cửa. Diễn viên giao lưu trực tiếp với khán giả, có khi đối đáp với người xem, nhất là vai hề. Khán giả cũng không ngồi yên: họ cười, bình luận, có khi đánh trống chầu khen chê.
Trống chầu là nét đặc biệt. Một người có uy tín trong làng cầm dùi trống, khi diễn viên hát hay thì đánh tiếng khen, khi hát dở thì có tiếng chê. Đó là cách khán giả làng tham gia vào buổi diễn, và là áp lực khiến nghệ nhân chèo luôn phải giữ nghề.
Vì diễn ngoài trời, buổi chèo xưa thường diễn vào đêm trăng hoặc thắp đuốc, đèn dầu. Ánh sáng chập chờn, tiếng trống vang xa, khán giả cả làng ngồi quanh: đó là khung cảnh mà nhiều người cao tuổi ở vùng này vẫn nhớ như một phần tuổi thơ.
Làng chèo Khuốc và các phường chèo làng
Trong các làng chèo của vùng Thái Bình cũ, làng Khuốc ở vùng Đông Hưng cũ là cái tên được nhắc nhiều nhất. Làng có truyền thống chèo lâu đời, nhiều thế hệ nghệ nhân, phường chèo từng đi diễn khắp vùng. Nhiều người làm chèo chuyên nghiệp của tỉnh xuất thân hoặc học nghề từ các làng chèo như vậy.
Không chỉ làng Khuốc, nhiều làng khác trong vùng cũng có phường chèo nghiệp dư, hoạt động mạnh vào mùa hội. Thành viên là nông dân, thợ thủ công, giáo viên, những người yêu chèo. Họ tập vào buổi tối, diễn vào dịp lễ hội, Tết, hoặc khi có đám mừng thọ, khánh thành công trình của làng.
Ngày nay, câu lạc bộ chèo ở các xã là hình thức phổ biến, thay cho phường chèo kiểu cũ. Các câu lạc bộ tham gia hội diễn, liên hoan chèo không chuyên, góp phần giữ làn điệu và vở diễn. Nếu muốn nghe chèo làng, hãy hỏi người địa phương về lịch hội làng hoặc lịch sinh hoạt câu lạc bộ chèo của xã.
Đến làng chèo, bạn có thể hỏi về những nghệ nhân lớn tuổi còn thuộc nhiều làn điệu cổ. Nghe họ hát vài câu mộc, không nhạc đệm, đôi khi còn xúc động hơn xem một vở diễn đầy đủ trên sân khấu.
Các vai chính trong chèo
Chèo có hệ thống vai ổn định, khán giả quen chỉ nhìn trang phục và điệu bộ là biết vai gì. Bảng dưới gồm các vai thường gặp:
| Vai | Tính cách thường thấy | Ví dụ trong vở cổ |
|---|---|---|
| Kép (kép văn, kép võ) | Nam chính, thư sinh hoặc võ tướng, đứng đắn | Lưu Bình, Thiện Sĩ |
| Đào thương (nữ chín) | Nữ chính hiền lành, đức hạnh, chịu nhiều oan khổ | Thị Kính, Châu Long |
| Đào lệch | Nữ lẳng lơ, đa tình, tinh nghịch | Thị Mầu |
| Đào pha | Nữ vừa đứng đắn vừa sắc sảo, tháo vát | Một số vai nữ mưu trí |
| Lão | Người già, cha mẹ, phúc hậu hoặc khắc nghiệt | Mẹ Thị Kính, Sùng ông |
| Mụ ác | Mẹ chồng, dì ghẻ độc ác | Sùng bà |
| Hề (hề gậy, hề áo ngắn, hề áo dài) | Gây cười, châm biếm, nói thay tiếng nói của dân | Hề Mồi, thầy đồ, lý trưởng |
Vai hề là linh hồn của chèo làng. Hề gậy thường là người nghèo, thông minh, nói thật; hề áo dài thường là quan lại, thầy đồ, bị chế giễu. Tiếng cười của hề là cách người nông dân xưa nói về những điều chướng tai gai mắt trong làng.
Làn điệu và nhạc cụ
Chèo có kho làn điệu phong phú, mỗi làn điệu hợp với một tâm trạng, một tình huống. Một số điểm nên biết:
- Làn điệu hay gặp. Sắp, đường trường, luyện năm cung, tò vò, hát cách, con gà rừng, quân tử vu quy... Mỗi làn điệu có thể có nhiều biến thể theo chiếng và theo nghệ nhân.
- Nói lối. Lối nói có vần, có nhịp, nằm giữa nói và hát, dùng để kể chuyện, đối đáp.
- Trống chèo. Nhạc cụ quan trọng nhất, giữ nhịp cho cả buổi diễn. Người đánh trống giỏi biết đẩy, hãm nhịp theo diễn viên.
- Đàn nhị, đàn nguyệt, sáo. Các nhạc cụ đệm cho giọng hát, tạo màu sắc âm nhạc.
- Thanh la, mõ, chũm chọe. Tạo tiết tấu, nhấn những đoạn sôi nổi.
Người mới nghe chèo có thể bắt đầu từ các trích đoạn quen thuộc như Thị Mầu lên chùa, Xúy Vân giả dại, rồi nghe trọn vở. Nghe nhiều sẽ nhận ra cùng một làn điệu nhưng mỗi nghệ nhân luyến láy khác nhau.
Mùa chèo và nhịp sống làng
Chèo làng có mùa, giống như nghề làng. Sau vụ gặt, khi thóc đã vào bồ, rơm đã phơi khô, là lúc các phường chèo bắt đầu tập. Mùa xuân là mùa diễn chính, khi hội làng nối nhau từ tháng Giêng đến tháng Ba âm lịch. Có những năm, một phường chèo giỏi đi diễn liền mấy chục đêm ở các làng quanh vùng, mỗi làng một chiếu.
Đi chiếu xa, cả phường gồng gánh trống, đàn, hòm trang phục đi bộ hoặc đi thuyền. Làng mời diễn lo cơm nước, chỗ ngủ, và một khoản thù lao bằng tiền hoặc thóc. Những chuyến đi như vậy làm các làn điệu, lối diễn lan từ làng này sang làng khác, góp phần tạo nên phong cách chung của chiếng Nam.
Ngày nay nhịp ấy đã đổi: câu lạc bộ chèo tập buổi tối sau giờ làm, diễn theo lịch hội của xã và các liên hoan. Nhưng mùa xuân vẫn là mùa chèo, và tiếng trống chèo vẫn là âm thanh báo hiệu hội làng đã đến ở nhiều nơi trong vùng.
Những vở chèo cổ nên biết
Kho vở chèo cổ có nhiều vở được diễn đi diễn lại qua nhiều thế hệ: Quan Âm Thị Kính, Lưu Bình Dương Lễ, Kim Nham, Trương Viên, Chu Mãi Thần, Tống Trân Cúc Hoa, Từ Thức. Mỗi vở xoay quanh một chuyện đạo lý: lòng chung thuỷ, tình bạn, sự hiếu thảo, cái giá của tham vọng.
Quan Âm Thị Kính là vở quen thuộc nhất, với nhân vật Thị Kính chịu oan và Thị Mầu lẳng lơ, đối lập nhau. Lưu Bình Dương Lễ kể về tình bạn và sự hy sinh của người vợ. Kim Nham có trích đoạn Xúy Vân giả dại, một trong những màn diễn khó nhất cho đào chèo. Những vở này không gắn riêng với Thái Bình mà là vốn chung của chèo Bắc Bộ, nhưng các phường chèo vùng này diễn chúng theo phong cách chiếng Nam.
Ngoài vở cổ, chèo hiện đại có nhiều vở mới về đề tài lịch sử, đời sống nông thôn. Các đoàn chèo chuyên nghiệp dàn dựng cả vở cổ lẫn vở mới, còn các câu lạc bộ làng thường diễn trích đoạn vở cổ.
Nếu chỉ chọn một vở để bắt đầu, Quan Âm Thị Kính là lựa chọn an toàn, vì đủ các vai, đủ làn điệu và có nhiều bản ghi hình để xem lại.
Chèo vùng Thái Bình cũ hôm nay
Tỉnh cũ có đoàn nghệ thuật chèo chuyên nghiệp, diễn trong rạp, đi lưu diễn và tham gia các liên hoan sân khấu. Bên cạnh đó là mạng lưới câu lạc bộ chèo không chuyên ở nhiều xã. Chèo vẫn có mặt trong các dịp hội làng, lễ mừng, và trên sóng phát thanh, truyền hình địa phương.
Khó khăn của chèo cũng như nhiều loại hình truyền thống khác: khán giả trẻ ít, diễn viên trẻ theo nghề không nhiều, thu nhập thấp. Các nghệ nhân lớn tuổi lo về việc truyền làn điệu cổ, vì nhiều làn điệu chỉ còn trong trí nhớ của vài người. Một số địa phương mở lớp dạy hát chèo cho học sinh, đưa chèo vào trường học.
Sau khi tỉnh cũ hợp nhất vào Hưng Yên, chèo vùng Thái Bình cũ trở thành một phần di sản sân khấu của tỉnh mới, cạnh những loại hình của vùng Hưng Yên cũ. Với người yêu chèo, cách tốt nhất để giữ chèo là đi xem: một buổi chèo làng giữa sân đình, nghe tiếng trống chầu, sẽ cho bạn hiểu vì sao người ta gọi nơi đây là quê hương chèo.
Với khán giả trẻ, các bản chèo được dàn dựng ngắn, kết hợp âm nhạc hiện đại cũng là một cửa ngõ, dù người giữ nghề vẫn mong khán giả tìm về với chèo cổ.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao Thái Bình được gọi là quê hương chèo?
Vì đây là vùng có truyền thống chèo lâu đời, thuộc chiếng chèo Nam, với nhiều làng có phường chèo như làng Khuốc ở Đông Hưng cũ, nhiều nghệ nhân và diễn viên chèo xuất thân từ vùng này, và chèo gắn chặt với sinh hoạt hội làng.
Làng chèo Khuốc ở đâu?
Làng Khuốc thuộc vùng huyện Đông Hưng cũ của tỉnh Thái Bình, nay thuộc tỉnh Hưng Yên sau đợt sắp xếp tháng 7/2025. Khi hỏi đường, bạn nói làng chèo Khuốc ở Đông Hưng, người địa phương sẽ chỉ.
Chèo và cải lương khác nhau thế nào?
Chèo là sân khấu dân gian Bắc Bộ, gốc từ sân đình làng, dùng làn điệu dân ca và nhạc cụ truyền thống, diễn ước lệ. Cải lương hình thành ở Nam Bộ đầu thế kỷ 20, dùng vọng cổ, có ảnh hưởng sân khấu phương Tây hơn. Hai loại hình khác nhau về nguồn gốc, âm nhạc và cách diễn.
Người mới nghe chèo nên bắt đầu từ đâu?
Nên bắt đầu từ các trích đoạn nổi tiếng như Thị Mầu lên chùa trong Quan Âm Thị Kính, Xúy Vân giả dại trong Kim Nham. Các trích đoạn ngắn, giàu kịch tính, giúp làm quen với làn điệu và cách diễn trước khi xem trọn vở.
Có thể xem chèo ở vùng Thái Bình cũ vào lúc nào?
Mùa hội xuân và mùa thu là lúc nhiều làng tổ chức diễn chèo. Đoàn chèo chuyên nghiệp có lịch diễn riêng, thường được thông báo qua kênh của đơn vị và của địa phương. Bạn nên hỏi trước lịch cụ thể khi định đến.