ThaiBinh.orgThái Bình
Sông, đê và đồng bằng

Quai đê lấn biển ở Thái Bình: bãi bồi thành đất mới như thế nào

Bờ biển vùng Thái Bình cũ bồi ra nhờ phù sa, người dân quai đê để biến bãi thành đất. Quá trình bồi tụ, các bước quai đê, đất mới dùng làm gì và vì sao nay phải giữ rừng.

Fishing boats resting beside a new concrete sea dike in northern Vietnam at high tide, grey waves breaking on stone revetment, a few people walking on the dike top in the distance

Quai đê lấn biển là cách người vùng Thái Bình cũ biến bãi bồi ven biển thành đất sử dụng được: khi phù sa bồi một bãi đủ cao, người ta đắp một tuyến đê bao phía ngoài, ngăn nước triều, rồi thau chua rửa mặn để nuôi trồng, trồng cói, làm muối và dần dần cấy lúa. Toàn bộ dải đất ven biển của Thái Thụy, Tiền Hải ngày nay là kết quả của nhiều lớp quai đê như vậy.

Quá trình này đã diễn ra qua nhiều thế kỷ, từ những bờ nhỏ của làng chài, qua cuộc khẩn hoang có tổ chức đầu thế kỷ mười chín, đến các công trình quai đê bằng máy móc trong thế kỷ hai mươi. Mỗi đợt để lại một tuyến đê cũ nằm sâu dần trong nội đồng.

Bài này giải thích bờ biển bồi ra thế nào, các bước quai một tuyến đê lấn biển, đất mới được dùng ra sao, những rủi ro khi lấn biển, và vì sao hiện nay nhiều vùng bãi được giữ lại làm rừng ngập mặn thay vì quai thêm.

Bờ biển bồi ra từ đâu

Mỗi năm sông Hồng và các phân lưu mang ra biển một lượng phù sa rất lớn. Khi dòng sông gặp biển, tốc độ dòng chảy giảm, nước ngọt gặp nước mặn, các hạt phù sa lắng xuống quanh cửa sông và được sóng, dòng ven bờ đẩy dạt sang hai bên. Theo thời gian, đáy biển gần bờ nông dần, rồi xuất hiện những bãi bùn chỉ lộ ra khi triều xuống.

Khi bãi bùn đủ cao, các loài cây chịu mặn bắt đầu mọc: cỏ, sú, vẹt, bần. Rễ cây giữ bùn, làm chậm dòng nước, khiến phù sa lắng nhiều hơn, bãi cao nhanh hơn. Đến một lúc, bãi chỉ ngập khi triều cường, rồi gần như không ngập nữa. Đó là lúc bãi trở thành "đất" theo cách nhìn của người địa phương.

Không phải đoạn bờ nào cũng bồi. Bờ biển là nơi cân bằng giữa phù sa bồi vào và sóng bào ra. Ở những đoạn gần cửa sông lớn như Ba Lạt, bồi thường thắng; ở những đoạn khác, sóng và dòng chảy có thể làm bờ lùi vào. Người dân ven biển thuộc rất rõ đoạn nào "đang ăn ra", đoạn nào "đang bị biển lấn".

Các bước quai một tuyến đê lấn biển

Quy trình cụ thể khác nhau theo thời kỳ và quy mô, nhưng có thể tóm tắt thành các bước chung:

  1. Chọn bãi. Bãi phải đủ cao, ổn định, không nằm ở đoạn đang bị xói, và đắp đê bao được với khối lượng hợp lý.
  2. Đắp đê quai. Đắp một tuyến đê bằng đất, sau này có thể gia cố bằng đá, bê tông, bao quanh phía ngoài bãi, nối với tuyến đê cũ ở hai đầu, tạo thành một ô kín.
  3. Làm cống. Đặt cống qua đê để chủ động lấy nước vào, tháo nước ra theo triều; đây là chìa khoá để thau chua, rửa mặn và điều tiết nước nuôi trồng.
  4. Thau chua, rửa mặn. Dùng nước mưa, nước ngọt từ kênh và cống để rửa dần muối, chua trong đất qua nhiều mùa.
  5. Sử dụng chuyển tiếp. Trong những năm đầu, đất mặn dùng nuôi tôm, cua, cá nước lợ, trồng cói, làm muối.
  6. Chuyển sang canh tác ngọt. Khi đất đã đủ ngọt, một phần được chuyển sang cấy lúa, trồng màu; tuyến đê quai trở thành đê chính mới, đê cũ phía trong thành đường làng hoặc đê phụ.

Quá trình từ khi quai đê đến khi cấy lúa ổn định có thể mất nhiều năm, thậm chí hàng chục năm, tuỳ đất và nguồn nước ngọt. Nhiều vùng quai đê không bao giờ chuyển sang lúa mà giữ mãi là vùng nuôi trồng.

Những lớp đê nằm sâu trong đồng

Đi từ vùng trong ra biển ở vùng Tiền Hải hay Thái Thụy cũ, nếu để ý bạn sẽ gặp nhiều tuyến đất cao chạy song song với bờ biển, có khi là đường làng, có khi là bờ vùng lớn, có khi có hàng cây cổ thụ. Nhiều tuyến trong số đó chính là đê biển của những thời kỳ trước, bị bỏ lại phía trong khi một tuyến đê mới được quai ra phía ngoài.

Những lớp đê cũ là một kiểu "vòng tuổi" của vùng đất. Làng nằm sát tuyến đê nào thường được lập vào thời tuyến đê ấy còn là đê biển. Càng ra phía ngoài, làng càng mới, ruộng càng trẻ, đất càng dễ còn mặn ở tầng sâu. Người già trong làng thường biết tên gọi và câu chuyện của từng tuyến đê.

Khi tìm hiểu quê hương, việc đi dọc một tuyến đê cũ và hỏi người già về nó là cách sống động để hiểu lịch sử vùng đất. Nhiều đoạn đê cũ đã bị san bớt để làm đường, làm nhà, nhưng dấu vết của chúng vẫn hiện trên cao độ và hướng đường làng.

Đất mới được dùng làm gì

Tuỳ độ mặn, cao độ và vị trí, đất quai đê được chia cho nhiều mục đích:

Mục đíchĐiều kiệnGhi chú
Nuôi trồng thủy sản nước lợĐất còn mặn, gần cửa sông, lấy được nước biển và nước ngọtTôm, cua, cá, ngao; cần quản lý nước và chất thải
Trồng cóiĐất mặn nhẹ, ngập nôngCây tiên phong giữ đất, cung cấp nguyên liệu cho nghề chiếu, đan
Làm muốiĐất bằng, gần biển, nắng gió tốtNghề truyền thống ven biển, phụ thuộc thời tiết
Cấy lúa, trồng màuĐất đã rửa mặn, có nguồn nước ngọt ổn địnhMục tiêu dài hạn của nhiều đợt quai đê xưa
Rừng ngập mặnBãi ngoài đê, ngập theo triềuKhông quai mà giữ lại để chắn sóng, nuôi nguồn lợi

Trong nhiều thập kỷ, xu hướng là biến càng nhiều bãi càng tốt thành ao nuôi và ruộng. Những năm gần đây, cách nhìn đã thay đổi: một phần bãi bồi được giữ nguyên hoặc trồng thêm rừng, vì giá trị phòng hộ và sinh thái của nó lớn hơn giá trị một vụ nuôi trồng.

Ai được dùng đất bãi bồi

Bãi bồi ven biển không phải đất vô chủ. Theo pháp luật về đất đai, bãi bồi ven sông, ven biển do nhà nước quản lý; việc giao, cho thuê để nuôi trồng, trồng rừng hay làm dự án phải theo quy hoạch và có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Ở nhiều xã ven biển, chính quyền xã quản lý trực tiếp những vùng bãi chưa giao, cho các hộ hoặc hợp tác xã thuê theo thời hạn.

Trên thực tế, quyền khai thác bãi gắn chặt với sinh kế của nhiều hộ: bãi ngao, bãi nuôi, đầm tôm, khu khai thác tự nhiên. Tranh chấp về ranh giới bãi, về quyền đánh bắt ở bãi chung, về việc thu hồi bãi cho dự án là chuyện không hiếm ở vùng ven biển. Giấy tờ thuê, giao bãi rõ ràng là điều kiện để người nuôi yên tâm đầu tư.

Với người định mua lại quyền thuê đầm, thuê bãi hoặc đầu tư nuôi trồng ở vùng ven biển Thái Bình cũ, việc đầu tiên là xem giấy tờ gốc, thời hạn thuê, mục đích sử dụng được phép, và hỏi chính quyền xã về quy hoạch khu vực. Đừng dựa vào giấy viết tay hay lời hứa miệng.

Rủi ro của việc lấn biển

Lấn biển không phải lúc nào cũng thành công. Tuyến đê quai mới thường thấp và yếu hơn đê chính, dễ bị sóng bão phá vỡ. Khi đê quai vỡ, nước biển tràn vào, ao nuôi mất trắng, ruộng mới rửa ngọt lại bị mặn. Nhiều vùng đã phải quai đi quai lại nhiều lần sau mỗi cơn bão lớn.

Lấn biển cũng có thể làm thay đổi dòng chảy ven bờ. Khi một đoạn bờ được đẩy ra, dòng nước và sóng có thể dồn sang đoạn bên cạnh, làm đoạn đó bị xói nhiều hơn. Phá rừng ngập mặn để làm ao nuôi lại làm mất lớp đệm chắn sóng cho đê, khiến đê chịu sóng trực tiếp.

Ngoài ra, ao nuôi thâm canh trên đất lấn biển nếu quản lý không tốt sẽ thải nước bẩn, bùn đáy ao, hoá chất ra vùng ven biển, ảnh hưởng tới bãi ngao, bãi cá tự nhiên. Đó là lý do việc sử dụng đất bãi bồi ngày nay chịu nhiều quy định hơn về quy hoạch, đánh giá môi trường và cấp phép.

Rừng ngập mặn và khu dự trữ sinh quyển

Vùng ven biển châu thổ sông Hồng, gồm một phần ven biển Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình cũ, được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới từ năm 2004. Các bãi bồi, rừng ngập mặn ở vùng Thái Thụy, Tiền Hải nằm trong khu này. Đây là nơi trú chân của nhiều loài chim di cư và là bãi đẻ, bãi ương của nhiều loài thủy sản.

Với việc công nhận này, một phần vùng bãi được ưu tiên bảo tồn thay vì quai đê khai thác. Rừng ngập mặn được giữ, trồng bổ sung ở những đoạn xung yếu trước đê biển. Người dân địa phương vẫn khai thác nguồn lợi ở bãi theo cách truyền thống, nhưng việc chặt rừng, quai đê mới, xây dựng trong vùng lõi bị hạn chế.

Đối với an toàn của làng, rừng ngập mặn có giá trị rất thực tế: một dải rừng đủ rộng trước đê làm giảm sức sóng khi bão vào, giảm chi phí gia cố đê. Nhiều người dân ven biển đã thấy tận mắt sự khác biệt giữa đoạn đê có rừng che và đoạn đê trơ trọi sau những cơn bão lớn.

Lấn biển hôm nay: cân nhắc nhiều hơn

Ngày nay, việc mở rộng đất ven biển ở vùng Thái Bình cũ không còn chủ yếu là để cấy lúa như thời khẩn hoang. Đất ven biển được quy hoạch cho khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng, vùng nuôi trồng tập trung, khu du lịch, bên cạnh các vùng bảo tồn. Mỗi dự án có tác động riêng tới bờ biển, dòng chảy và sinh kế của người dân.

Người dân ven biển vì vậy đứng trước nhiều câu hỏi: bãi nuôi ngao truyền thống có bị ảnh hưởng không, rừng có bị chặt không, đê có được gia cố không. Thông tin về quy hoạch và dự án nên tìm từ nguồn chính thức của tỉnh, các buổi lấy ý kiến cộng đồng, thay vì tin đồn về giá đất hay dự án sắp làm.

Bài học từ hơn hai thế kỷ lấn biển ở đây là: biển cho đất, nhưng biển cũng lấy lại khi con người làm quá tay. Cách khai thác bền vững là tôn trọng nhịp bồi xói tự nhiên, giữ dải rừng đệm, và chỉ quai đê ở nơi đã được tính toán kỹ.

Câu hỏi thường gặp

Quai đê lấn biển là gì?

Là việc đắp một tuyến đê bao quanh bãi bồi ven biển để ngăn nước triều, biến bãi thành đất sử dụng được. Sau khi quai, đất được thau chua, rửa mặn, dùng nuôi trồng thủy sản, trồng cói, làm muối, rồi dần dần có thể cấy lúa.

Vì sao bờ biển Thái Bình bồi ra được?

Vì sông Hồng và các phân lưu mang ra biển nhiều phù sa. Phù sa lắng quanh cửa sông, được sóng và dòng ven bờ đẩy dạt, tạo bãi bùn; cây ngập mặn mọc lên giữ bùn, bãi cao dần. Tuy vậy không phải đoạn bờ nào cũng bồi, có đoạn bị xói lở.

Đất lấn biển có cấy lúa được ngay không?

Không. Đất mới quai còn mặn và chua, cần nhiều năm thau rửa bằng nước mưa và nước ngọt. Trong thời gian đó, đất thường dùng để nuôi trồng thủy sản, trồng cói hoặc làm muối. Có vùng không bao giờ chuyển sang lúa được.

Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng gồm vùng nào?

Khu được UNESCO công nhận năm 2004, gồm vùng ven biển và bãi bồi của một phần Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình cũ, trong đó có các vùng ven biển Thái Thụy, Tiền Hải. Ranh giới vùng lõi, vùng đệm cụ thể nên tra từ ban quản lý khu.

Rừng ngập mặn có tác dụng gì với đê biển?

Rừng ngập mặn làm giảm sức sóng trước khi sóng chạm đê, giữ bùn chống xói, nhờ vậy đê ít bị hư hại khi bão. Rừng còn là nơi sinh sản của nhiều loài thủy sản và chim. Vì vậy giữ rừng được coi là một phần của việc giữ đê.

Có được tự quai bãi bồi để nuôi trồng không?

Không được tự ý. Đất bãi bồi ven biển do nhà nước quản lý, việc giao, cho thuê và sử dụng phải theo quy hoạch, có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Tự quai bãi có thể vi phạm quy định về đất đai, đê điều và bảo vệ môi trường.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.