Vùng Thái Bình cũ có một trong những mạng thủy nông dày đặc nhất đồng bằng sông Hồng: hai hệ thống lớn ở hai bên sông Trà Lý, mỗi hệ gồm cống lấy nước, trạm bơm, kênh chính và hàng nghìn cây số kênh nhánh, kênh nội đồng đưa nước tới từng thửa ruộng và tiêu nước thừa ra sông, ra biển.
Lý do đơn giản: đất quá phẳng. Ở vùng đồi núi, nước tự chảy từ cao xuống thấp; ở đây độ dốc gần như bằng không, nên muốn nước vào ruộng phải dẫn, phải bơm, phải canh giờ triều; muốn nước ra khỏi ruộng khi mưa lớn cũng phải bơm, phải mở cống đúng lúc. Không có thủy nông, đồng bằng này không thể cấy hai vụ lúa mỗi năm.
Bài này giải thích cấu trúc hệ thống thủy nông, cách nước đi từ sông vào thửa ruộng, chuyện tưới tự chảy theo triều, chống úng mùa mưa, ai quản lý phần nào, và người dân góp phần giữ kênh mương ra sao.
Hai hệ thống lớn ở hai bên sông Trà Lý
Sông Trà Lý chia vùng Thái Bình cũ làm hai, và thủy nông cũng được tổ chức thành hai hệ thống tương ứng: một hệ cho phía bắc, một hệ cho phía nam Trà Lý. Mỗi hệ là một vùng tưới tiêu tương đối độc lập, có nguồn nước, cống đầu mối, trạm bơm và đường tiêu riêng, do các đơn vị khai thác công trình thủy lợi chuyên trách vận hành.
Cách chia này hợp lý về kỹ thuật. Nếu một hệ phải đưa nước vượt qua sông Trà Lý thì vừa tốn kém vừa khó điều hành. Mỗi hệ lấy nước từ các sông bao quanh phía mình, gồm sông Hồng, sông Trà Lý, sông Luộc, sông Hóa, và tiêu ra các sông, cửa biển gần nhất.
Với người dân, ranh giới giữa hai hệ ít khi được nhắc tới, nhưng nó giải thích vì sao lịch lấy nước, lịch tiêu úng ở xã bên này sông có khi khác xã bên kia sông. Khi hỏi về lịch nước, hãy hỏi đúng hợp tác xã hoặc đơn vị thủy nông phụ trách vùng mình.
Các cấp của hệ thống thủy nông
Có thể hình dung hệ thống như cái cây: gốc ở sông, thân là kênh chính, cành là kênh nhánh, lá là thửa ruộng. Bảng dưới đi từ lớn tới nhỏ:
| Cấp | Gồm những gì | Thường do ai quản lý |
|---|---|---|
| Đầu mối | Cống lớn dưới đê, trạm bơm lớn lấy nước từ sông và tiêu ra sông | Đơn vị khai thác công trình thủy lợi của tỉnh |
| Kênh chính, kênh cấp 1 | Kênh rộng dẫn nước đi xa, có cống điều tiết trên kênh | Đơn vị khai thác công trình thủy lợi |
| Kênh cấp 2, cấp 3 | Kênh nhánh tới từng cánh đồng, trạm bơm nhỏ | Đơn vị thủy lợi phối hợp xã, hợp tác xã |
| Kênh nội đồng, mương | Mương nhỏ tới từng vùng ruộng, cống nhỏ, bờ vùng | Hợp tác xã, thôn |
| Bờ thửa, lỗ lấy nước | Bờ đất quanh thửa ruộng, chỗ mở cho nước vào ra | Từng hộ nông dân |
Phân cấp quản lý cụ thể có thể khác nhau giữa các nơi và thay đổi theo chính sách. Điều cốt lõi là mỗi cấp phải làm đúng phần mình thì nước mới tới được thửa ruộng cuối cùng.
Nước đi từ sông vào thửa ruộng như thế nào
Hành trình của nước bắt đầu ở cống hoặc trạm bơm đầu mối. Khi mực nước sông đủ cao và nước đủ ngọt, cống mở để nước tự chảy vào kênh chính; khi mực nước thấp, trạm bơm hút nước từ sông đổ vào kênh. Từ kênh chính, nước được chia qua các cống điều tiết vào kênh nhánh, rồi xuống kênh nội đồng.
Ở cấp nội đồng, việc chia nước thường theo lịch: cánh đồng nào lấy trước, cánh đồng nào lấy sau, mỗi lượt bao lâu. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoặc thôn điều phối, có người đi mở, đóng cống nhỏ. Từng hộ mở bờ thửa cho nước vào khi tới lượt, đóng lại khi đủ. Ở những chỗ ruộng cao hơn mương, người dân dùng máy bơm nhỏ để đưa nước lên.
Toàn bộ quá trình đòi hỏi phối hợp nhiều người. Một hộ giữ nước quá lâu, một đoạn mương bị bồi lấp, một cống nhỏ hỏng không sửa, đều có thể làm cánh đồng phía sau thiếu nước. Vì thế ở vùng quê lúa, chuyện nước là chuyện của cả làng, và tranh chấp về nước, dù nhỏ, là chuyện các thôn phải dàn xếp thường xuyên.
Tưới tự chảy theo triều
Một nét đặc biệt của thủy nông vùng ven biển như Thái Bình là tận dụng thủy triều. Ở phần hạ lưu các sông, mỗi ngày triều lên làm mực nước sông dâng cao; nếu lúc đó nước sông còn ngọt, mở cống là nước tự chảy vào kênh mà không cần bơm. Khi triều xuống, đóng cống để giữ nước lại trong kênh.
Cách làm này tiết kiệm rất nhiều điện năng so với bơm, và đã được áp dụng từ lâu ở vùng đồng bằng ven biển. Nhưng nó đòi hỏi tính toán: phải biết giờ triều, biết độ mặn, biết mực nước trong kênh. Mở cống sai lúc có thể đưa nước mặn vào, hoặc làm nước trong kênh chảy ngược ra sông.
Khi mực nước sông mùa cạn ngày càng thấp, cơ hội lấy nước tự chảy giảm, nhiều nơi phải dùng bơm nhiều hơn. Đây là một trong những lý do ngành thủy lợi phải đầu tư thêm trạm bơm, cải tạo cống và nạo vét kênh để giữ được khả năng cấp nước cho vùng.
Đổ ải vụ xuân: lúc cả vùng cần nước cùng một lúc
Thời điểm căng thẳng nhất trong năm của thủy nông vùng Thái Bình không phải mùa mưa mà là đầu vụ xuân, khi cả vùng cần nước để làm đất, gọi là đổ ải. Ruộng sau vụ đông hoặc sau thời gian để khô cần được ngâm nước, cày bừa trước khi cấy. Hàng vạn héc-ta ruộng cùng cần nước trong vài tuần, trong khi đó lại là lúc nước sông thấp nhất năm.
Để giải bài toán này, các hồ chứa thủy điện lớn ở thượng nguồn sông Hồng thường xả nước theo các đợt có lịch định trước, nâng mực nước hạ du trong vài ngày. Các trạm bơm, cống ở vùng Thái Bình tận dụng tối đa những ngày ấy để lấy nước vào kênh, trữ đầy kênh mương, ao hồ. Xã nào chuẩn bị kênh mương sạch, bờ vùng chắc, máy bơm sẵn sàng thì lấy được nhiều nước hơn.
Với người nông dân, đây là những ngày bận rộn: thăm đồng, đắp bờ, chờ nước về, cày bừa ngay khi ruộng đủ nước. Lỡ đợt lấy nước có thể làm chậm thời vụ, kéo theo nguy cơ lúa trổ gặp thời tiết xấu. Vì vậy thông báo lịch đổ ải là một trong những thông báo được người làm ruộng chú ý nhất mỗi năm.
Chống úng mùa mưa
Mùa mưa, việc khó lại là đưa nước ra khỏi đồng. Một trận mưa lớn trên vùng đất phẳng làm nước đọng khắp nơi; nếu không tiêu kịp, lúa mới cấy bị ngập, chết, rau màu hỏng. Nước trong đồng phải chảy theo kênh tiêu ra sông, ra biển; nhưng nếu lúc đó nước sông cao hoặc triều cường, nước không thể tự chảy ra mà phải bơm.
Các trạm bơm tiêu vì vậy là công trình sống còn trong mùa mưa bão. Chúng thường được vận hành hết công suất khi có mưa lớn, và nguồn điện ổn định là điều kiện tiên quyết. Bão làm mất điện đúng lúc cần bơm tiêu là kịch bản xấu mà ngành thủy lợi luôn phải tính.
Những vùng trũng, xa cửa tiêu, thường bị úng trước và lâu nhất. Người làm ruộng ở đó quen với việc chọn giống chịu ngập khá hơn, điều chỉnh lịch cấy, và khi có cảnh báo mưa lớn thì tháo cạn nước ruộng trước để đón mưa. Kênh tiêu thông thoáng, không bị rác và bèo làm tắc, là điều kiện để nước thoát nhanh.
Kênh mương trong đời sống làng
Ngoài vai trò tưới tiêu, kênh mương là một phần cảnh quan và đời sống làng quê vùng Thái Bình. Đường làng chạy dọc bờ kênh, cầu nhỏ bắc qua mương nối xóm này sang xóm kia, trẻ con câu cá, bắt ốc ở mương, người lớn giặt giũ, rửa nông cụ ở bến kênh. Những hàng cây dọc bờ kênh tạo bóng mát giữa đồng.
Nhưng kênh mương cũng gặp nhiều vấn đề. Rác thải sinh hoạt, vỏ bao thuốc bảo vệ thực vật, nước thải chăn nuôi đổ xuống làm nước ô nhiễm, bốc mùi; bèo, lục bình mọc dày làm tắc dòng; bờ kênh bị lấn chiếm làm hẹp lòng kênh. Những điều này làm giảm khả năng tưới tiêu và ảnh hưởng tới sức khoẻ người dân.
Nhiều làng có phong trào vệ sinh kênh mương, vớt bèo, thu gom vỏ bao thuốc vào nơi quy định, trồng cây, làm đường dọc bờ kênh. Những việc này cần cả làng cùng làm mới có hiệu quả, vì nước chảy từ đoạn này sang đoạn khác, một chỗ bẩn là cả dòng bẩn.
Người dân góp phần giữ hệ thống thủy nông thế nào
Một vài việc cụ thể mà mỗi hộ ở vùng Thái Bình cũ có thể làm:
- Không đổ rác, xác động vật, nước thải chăn nuôi chưa xử lý xuống kênh mương.
- Bỏ vỏ bao, chai lọ thuốc bảo vệ thực vật vào nơi thu gom riêng, không vứt xuống mương.
- Không lấn chiếm bờ kênh để làm nhà, chuồng trại, trồng cây làm hẹp dòng chảy.
- Tham gia nạo vét, vớt bèo khi thôn tổ chức; giữ sạch đoạn kênh trước nhà.
- Lấy nước theo lịch chung, không tự ý đắp chặn mương, phá cống để lấy nước riêng.
- Báo cho hợp tác xã, thôn khi thấy cống hỏng, bờ kênh sạt, mương bị tắc.
Hệ thống thủy nông là tài sản chung được xây bằng công sức của nhiều thế hệ. Giữ cho nó hoạt động tốt là cách bảo đảm vụ lúa của chính mình và của hàng xóm.
Với các hộ đã chuyển sang làm việc khác và cho người khác thuê, mượn ruộng, trách nhiệm với bờ thửa và đoạn mương sát ruộng vẫn cần được thoả thuận rõ, tránh tình trạng ruộng bỏ không, bờ sạt, mương lấp mà không ai lo.
Câu hỏi thường gặp
Thủy nông ở Thái Bình được chia thế nào?
Hệ thống thủy nông vùng Thái Bình cũ chia thành hai vùng lớn ở phía bắc và phía nam sông Trà Lý, mỗi vùng có công trình đầu mối, kênh chính và mạng kênh nhánh riêng, do đơn vị khai thác công trình thủy lợi chuyên trách vận hành phối hợp với các xã, hợp tác xã.
Tưới tự chảy theo triều là gì?
Là cách tận dụng thủy triều ở vùng hạ lưu: khi triều lên làm mực nước sông dâng cao mà nước còn ngọt, mở cống để nước tự chảy vào kênh, triều xuống thì đóng cống giữ nước. Cách này tiết kiệm điện bơm nhưng đòi hỏi theo dõi giờ triều và độ mặn.
Vì sao Thái Bình hay bị úng khi mưa lớn?
Vì đất rất phẳng và thấp, nước mưa chảy chậm, phải đi qua mạng kênh dài mới ra sông, ra biển. Khi mưa lớn trùng lúc nước sông cao hoặc triều cường, nước không tự chảy ra được, phải trông vào trạm bơm tiêu.
Muốn biết lịch lấy nước thì hỏi ai?
Hỏi hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp hoặc trưởng thôn nơi có ruộng; lịch thường được thông báo qua loa xã và các nhóm thông tin của thôn. Lịch lấy nước đổ ải đầu vụ xuân thường gắn với đợt xả nước của các hồ chứa thượng nguồn.
Kênh mương ô nhiễm thì báo cho ai?
Báo cho trưởng thôn, hợp tác xã hoặc chính quyền xã nơi có kênh. Nếu nghi có nguồn thải từ cơ sở sản xuất, nên ghi lại vị trí, thời điểm, hình ảnh để cơ quan chức năng kiểm tra. Không tự ý đắp chặn kênh để ngăn nước bẩn vì có thể gây úng cho vùng khác.
Có được tự đào mương, đặt máy bơm lấy nước từ kênh không?
Việc đặt máy bơm nhỏ lấy nước từ kênh nội đồng vào ruộng mình thường được chấp nhận theo lịch chung. Đào mương mới, chặn kênh, làm thay đổi dòng chảy cần hỏi hợp tác xã và chính quyền xã, vì có thể ảnh hưởng tới ruộng của người khác.