ThaiBinh.orgThái Bình
Sông, đê và đồng bằng

Thái Bình có núi không? Địa hình đồng bằng thấp, đất phù sa và cảnh quan quê lúa

Vùng Thái Bình cũ hoàn toàn là đồng bằng, không đồi núi, thấp và nghiêng nhẹ từ tây bắc xuống đông nam. Đất phù sa, đất chua mặn ven biển và cảnh quan quê lúa ra sao.

Drone view at sunrise over perfectly flat checkerboard rice paddies stretching to the horizon, thin irrigation canals, small clusters of village trees, no hills anywhere, soft golden haze

Vùng Thái Bình cũ không có núi, không có đồi; toàn bộ là đồng bằng thấp được bồi đắp bởi phù sa sông Hồng và các sông khác, nghiêng rất nhẹ từ tây bắc xuống đông nam ra biển. Đây là một trong số ít vùng ở miền Bắc mà đứng ở bất kỳ đâu, nhìn bốn phía cũng chỉ thấy đồng ruộng, lũy tre và mái nhà, không có bóng núi nào ở chân trời.

Địa hình hoàn toàn bằng phẳng quyết định gần như mọi thứ của vùng đất: cách làm thủy lợi, cách đắp đê, nguy cơ úng và mặn, cách lập làng, thậm chí cách người ta chỉ đường. Đất phù sa màu mỡ giải thích vì sao đây là quê lúa; đất chua mặn ven biển giải thích vì sao vùng biển có cói, muối, nuôi trồng thay vì lúa.

Bài này mô tả địa hình, các loại đất chính, cảnh quan đồng bằng và những điều thú vị của một vùng đất không có núi.

Một vùng đất hoàn toàn bằng phẳng

Phần lớn diện tích vùng Thái Bình cũ chỉ cao hơn mực nước biển vài mét, nhiều nơi chỉ một, hai mét. Chênh lệch giữa chỗ cao nhất và chỗ thấp nhất trong vùng rất nhỏ, mắt thường gần như không nhận ra. Những chỗ "cao" nổi bật nhất thường là do con người tạo ra: đê, nền làng được tôn lên qua nhiều đời, gò mộ, đường lớn.

Địa hình nghiêng rất nhẹ theo hướng tây bắc – đông nam, theo hướng các dòng sông chảy ra biển. Vùng Hưng Hà, Vũ Thư ở phía tây bắc nhìn chung cao hơn một chút; vùng ven biển Thái Thụy, Tiền Hải thấp hơn. Trong từng vùng lại có những ô trũng, nơi nước đọng lâu sau mưa, người địa phương gọi là đồng trũng, đồng chiêm.

Vì không có độ dốc đáng kể, nước trên mặt đất gần như không tự chảy theo hướng nào rõ rệt. Đó là lý do toàn bộ việc tưới tiêu phải dựa vào kênh đào, cống và trạm bơm, và vì sao vùng này cần một hệ thống thủy nông dày đặc như đã nói trong bài riêng của mục.

Vì sao không có núi: đất trẻ do phù sa bồi

Vùng Thái Bình cũ là phần trẻ của châu thổ sông Hồng. Hàng nghìn năm trước, phần lớn vùng này còn là biển nông và vùng cửa sông. Phù sa từ sông Hồng và các sông khác đổ ra liên tục, lấp dần vùng biển nông, tạo nên đồng bằng. Quá trình đó vẫn tiếp diễn ở bờ biển ngày nay, nơi bãi bồi tiếp tục nhô ra ở một số đoạn.

Vì được hình thành chủ yếu bởi lớp trầm tích sông biển, vùng đất không có nền đá nhô lên thành núi đồi như vùng trung du hay vùng ven núi của Ninh Bình, Hà Nam. Bên dưới lớp đất canh tác là các lớp bùn, cát, sét dày, đôi chỗ có than bùn và vỏ sò ốc cổ, dấu vết của biển xưa.

Tuổi của đất cũng khác nhau giữa các vùng. Đất phía tây bắc, gần đầu nguồn, được bồi sớm hơn nên làng mạc cổ hơn; đất phía đông nam ven biển mới hơn nhiều, có vùng chỉ hai, ba thế kỷ tuổi. Lịch sử khai phá của con người đi theo đúng trình tự bồi tụ ấy, từ trong ra ngoài.

Các loại đất chính và cách sử dụng

Có thể chia đất vùng Thái Bình cũ thành vài nhóm chính theo nguồn gốc và tính chất. Đây là cách chia đơn giản để dễ hình dung; phân loại khoa học chi tiết hơn nhiều:

Nhóm đấtỞ đâuTính chất và cách dùng
Đất phù sa trong đêPhần lớn vùng đồng trongMàu mỡ, giữ nước tốt; thâm canh lúa hai vụ và vụ đông
Đất phù sa bãi ngoài đêBãi sông Hồng, Trà Lý, Luộc, HóaĐược bồi hằng năm, tơi xốp; trồng ngô, đậu, rau màu, cây ăn quả
Đất trũng, đất chiêmCác ô trũng trong đồngNgập lâu, dễ chua; trước cấy một vụ, nay nhiều nơi cấy hai vụ nhờ bơm tiêu hoặc chuyển sang nuôi cá
Đất chua mặn ven biểnVùng sát biển Thái Thụy, Tiền HảiMặn và chua; trồng cói, nuôi trồng thủy sản, làm muối; lúa chịu mặn ở chỗ đã rửa ngọt
Đất cát ven biển, cồn cátMột số dải ven bờ, cồn bãiNghèo dinh dưỡng; trồng phi lao chắn gió, một số loại rau màu

Chất lượng đất còn phụ thuộc cách canh tác: bón phân cân đối, luân canh, bổ sung hữu cơ giúp đất giữ được độ màu mỡ; lạm dụng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật làm đất chai, chua dần.

Cảnh quan đồng bằng: đọc một ngôi làng giữa đồng

Đứng giữa đồng ở vùng Thái Bình cũ, cảnh quan có một trật tự riêng. Cánh đồng chia thành ô bởi bờ vùng, bờ thửa và kênh mương thẳng; xa xa là những vệt cây xanh đậm, đó là các làng. Mỗi làng nằm trên nền đất cao hơn ruộng một chút, bao quanh bởi lũy tre, ao, vườn; giữa làng là đình, chùa, nhà thờ họ; ngoài rìa là nghĩa trang nằm giữa đồng.

Vì không có núi làm mốc, người địa phương định hướng bằng các mốc nhân tạo: tháp chuông, cây đa đầu làng, điếm canh đê, cống, cầu, tháp nước. Chỉ đường kiểu "qua cống thì rẽ trái, đến cây đa thì đi thẳng" rất phổ biến. Người mới đến dễ lạc vì cánh đồng nào nhìn cũng giống nhau.

Bầu trời là phần lớn của cảnh quan đồng bằng. Không có gì che chắn, hoàng hôn và bình minh trải rộng hết chân trời, mây và mưa có thể nhìn thấy từ xa. Những ai lớn lên ở đây khi đi xa thường nhớ nhất cảm giác "trời rộng" ấy, điều mà người sống ở vùng núi hay thành phố ít có.

Địa hình bằng phẳng quyết định đời sống ra sao

Địa hình phẳng có lợi lớn cho nông nghiệp: dễ làm ruộng, dễ đưa máy móc vào đồng, dễ dồn điền đổi thửa thành cánh đồng lớn. Giao thông bộ cũng thuận: đường đi thẳng, ít dốc, xe đạp và xe máy là phương tiện tự nhiên. Đó là lý do vùng Thái Bình từ lâu có mật độ dân số cao và mạng đường làng dày.

Nhưng phẳng và thấp cũng là điểm yếu. Nước khó thoát khi mưa lớn; nước lũ, nước biển dâng khi vượt đê sẽ lan rất rộng; không có chỗ cao tự nhiên để tránh lũ, nên nhà tránh trú, trường học, trụ sở kiên cố thường được dùng làm nơi sơ tán. Đây là lý do việc giữ đê, giữ hệ thống tiêu nước được coi trọng đến vậy.

Địa hình phẳng cũng tạo ra một kiểu quần cư đặc trưng: làng dày, nhà sát nhau, ruộng xen giữa các làng, không có những khoảng trống lớn bỏ hoang. Gần như mọi mét vuông đất đều được dùng vào việc gì đó: ruộng, ao, vườn, mộ, đường. Áp lực về đất đai vì thế luôn lớn, và chuyện người trẻ đi làm xa một phần cũng bắt nguồn từ đây.

Đồng bằng đang thay đổi

Cảnh quan đồng bằng Thái Bình hôm nay đã khác nhiều so với vài chục năm trước. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mọc lên trên đất ruộng ven các trục quốc lộ; khu dân cư mới lan dọc đường lớn; nhà cao tầng thay cho nhà mái ngói. Ở nhiều xã, những dải nhà dọc đường đã nối liền làng này với làng kia, không còn khoảng đồng trống ở giữa như trước.

Trong đồng, việc dồn điền đổi thửa và xây dựng cánh đồng lớn làm ô ruộng to hơn, bờ thửa ít đi, máy cấy, máy gặt thay cho sức người. Một số ô trũng được chuyển sang ao nuôi, trang trại; một số ruộng bỏ hoang vì thiếu người làm khi lao động trẻ đi làm xa. Cảnh đồng vì thế vừa rộng hơn vừa vắng người hơn.

Những thay đổi này không làm mất đi đặc điểm cơ bản của địa hình: vùng đất vẫn thấp, phẳng, vẫn sống nhờ đê và thủy nông. Ngược lại, khi diện tích bê tông tăng, nước mưa thoát nhanh hơn xuống kênh, đòi hỏi hệ thống tiêu nước phải được tính lại. Quy hoạch xây dựng trên đồng bằng thấp vì vậy luôn phải đi cùng quy hoạch thoát nước.

Những điều thú vị về một vùng đất không có núi

Không có đá tự nhiên. Vì toàn là đất phù sa, vùng này gần như không có đá tại chỗ. Đá xây kè, xây đê, làm đường xưa nay phải chở từ nơi khác về bằng thuyền và xe; nhà cổ chủ yếu dùng gạch nung từ đất sét địa phương, gỗ và tre.

Nghề gạch ngói phát triển. Đất sét phù sa là nguyên liệu làm gạch ngói, nên nhiều vùng có lò gạch truyền thống. Ngày nay nghề này đã thu hẹp nhiều vì yêu cầu về môi trường và vật liệu mới.

Tên địa danh có chữ núi mà không có núi. Một số tên làng, tên xã ở vùng này có chữ Sơn, nghĩa là núi, như Bắc Sơn, Châu Sơn, Đông Sơn. Đó là cách đặt tên theo chữ đẹp hoặc theo ý nghĩa khác, không phải vì có núi thật.

Gò đất là kỷ niệm. Những gò đất cao trong đồng thường là gò mộ cổ, nền đình chùa cũ hoặc nền làng bị bỏ. Người già hay gắn chúng với truyền thuyết của làng.

Ngắm sao rất rõ. Ở vùng đồng xa đô thị, không có núi che, trời quang mùa thu đông nhìn sao và trăng rất rõ, từ chân trời này sang chân trời kia.

Đến vùng đồng bằng Thái Bình nên xem gì

Với khách ghé thăm, cái đẹp của vùng Thái Bình cũ không nằm ở thắng cảnh núi non mà ở chính cảnh đồng bằng. Một buổi sáng sớm đi xe máy hoặc xe đạp trên đường đê, đường liên xã giữa mùa lúa xanh hoặc mùa lúa chín là trải nghiệm đáng giá nhất. Mùa cấy, mùa gặt có nhịp lao động riêng, nhìn từ xa đã thấy cả cánh đồng chuyển động.

Nếu muốn nhìn toàn cảnh, hãy lên mặt đê sông Hồng hay đê biển, những chỗ cao nhất trong vùng. Từ đó thấy rõ một bên là sông hoặc biển, một bên là đồng ruộng phẳng lì với các làng như những hòn đảo cây xanh. Ánh sáng đẹp nhất thường vào sáng sớm và chiều muộn.

Khi đi trên đường làng, đường đồng, nhớ đi chậm, nhường đường cho máy nông nghiệp, xe chở lúa, trâu bò. Đường giữa đồng thường hẹp, hai bên là mương nước, buổi tối ít đèn. Hỏi đường người dân luôn là cách nhanh nhất, vì bản đồ số đôi khi chưa cập nhật đường nhỏ và tên xã mới.

Câu hỏi thường gặp

Thái Bình có núi không?

Không. Vùng Thái Bình cũ hoàn toàn là đồng bằng thấp do phù sa bồi đắp, không có núi, không có đồi. Những chỗ cao nhất thường do con người tạo ra như đê, nền làng, gò mộ. Đây là nét khác biệt rõ với các vùng lân cận có núi đá như Ninh Bình.

Độ cao của vùng Thái Bình cũ là bao nhiêu?

Phần lớn diện tích chỉ cao hơn mực nước biển vài mét, nhiều nơi khoảng một đến hai mét, cao hơn một chút ở phía tây bắc và thấp dần về phía biển. Số liệu chi tiết cho từng vùng nên tra tài liệu địa lý hoặc bản đồ địa hình chính thức.

Đất ở Thái Bình là loại đất gì?

Chủ yếu là đất phù sa sông, màu mỡ, thích hợp trồng lúa. Ven biển có đất chua mặn và đất cát, dùng trồng cói, nuôi trồng thủy sản, làm muối hoặc trồng phi lao chắn gió. Bãi ngoài đê có đất phù sa được bồi hằng năm, hợp trồng màu.

Vì sao Thái Bình hay bị úng?

Vì địa hình rất bằng phẳng và thấp, nước mưa không tự chảy nhanh ra sông, biển mà phải qua mạng kênh dài và trạm bơm. Khi mưa lớn trùng lúc nước sông cao hoặc triều cường, nước không thoát được, các ô trũng bị ngập.

Ở Thái Bình có chỗ nào cao để ngắm toàn cảnh không?

Không có đồi núi, nhưng mặt đê sông Hồng, đê biển và một số tòa nhà cao ở khu trung tâm cũ là những chỗ có tầm nhìn rộng. Đứng trên đê vào sáng sớm hoặc chiều muộn có thể nhìn thấy đồng ruộng trải tới chân trời.

Đất Thái Bình hình thành từ bao giờ?

Đất được bồi dần qua hàng nghìn năm, phần phía tây bắc bồi sớm hơn, phần ven biển phía đông nam mới hơn nhiều. Vùng Tiền Hải chỉ được khẩn hoang từ đầu thế kỷ mười chín, và đến nay bờ biển vẫn tiếp tục biến động.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.