ThaiBinh.orgThái Bình
Sông, đê và đồng bằng

Sông Trà Lý: con sông chia đôi vùng Thái Bình cũ, chảy qua khu trung tâm ra biển

Sông Trà Lý tách từ sông Hồng, chảy ngang vùng Thái Bình cũ, qua khu trung tâm rồi ra biển ở cửa Trà Lý. Dòng sông, đời sống hai bờ, nước tưới và những thay đổi gần đây.

Calm wide river flowing through a provincial city at dusk, a long bridge silhouetted against an orange sky, small fishing boats near the bank, riverside trees in shadow

Sông Trà Lý là một phân lưu của sông Hồng, tách ra ở phía tây bắc vùng Thái Bình cũ, chảy theo hướng tây – đông qua khu trung tâm cũ rồi đổ ra biển ở cửa Trà Lý, giữa vùng Thái Thụy và Tiền Hải. Dòng sông dài vài chục cây số, nằm trọn trong vùng Thái Bình cũ, và là con sông gắn bó nhất với đời sống người dân nơi đây.

Trà Lý chia vùng đất thành hai nửa bắc và nam, quyết định cách tổ chức tưới tiêu, đường sá, thậm chí cả cách người địa phương chỉ đường. Khu tỉnh lỵ được đặt bên bờ sông này năm 1890, và từ đó đô thị lớn nhất vùng lớn lên dọc hai bờ.

Với người ở xa về, đứng trên cầu nhìn xuống Trà Lý thường là khoảnh khắc nhận ra mình đã về tới quê. Bài này kể dòng chảy của sông Trà Lý, vai trò với nông nghiệp, đời sống ở khu trung tâm và hai bờ, cửa sông ra biển, và những thay đổi về sông trong những năm gần đây.

Dòng chảy từ sông Hồng ra biển

Sông Trà Lý nhận nước từ sông Hồng ở vùng tây bắc, nơi dòng sông lớn chia một nhánh chảy về phía đông. Từ điểm phân lưu, Trà Lý chảy qua vùng giáp ranh Hưng Hà, Đông Hưng, Vũ Thư cũ, vào khu trung tâm cũ, rồi đi tiếp qua vùng giáp Kiến Xương, Đông Hưng, xuống vùng Thái Thụy, Tiền Hải và ra biển.

Vì là phân lưu của sông Hồng, chế độ nước của Trà Lý theo sông Hồng: mùa hè thu nước lên cao, đục, nhiều phù sa; mùa đông xuân nước xuống thấp, trong hơn. Đoạn gần biển chịu ảnh hưởng của thủy triều rõ rệt, nước lên xuống hai lần mỗi ngày theo con nước, và vào mùa khô nước mặn có thể theo triều lấn ngược vào khá sâu.

Hai bờ Trà Lý có đê. Đê sông Trà Lý là một phần của hệ thống đê vùng Thái Bình, nối với đê sông Hồng ở phía thượng và đê biển ở phía cửa. Ngoài đê, nhiều đoạn có bãi bồi trồng màu; trong đê là làng mạc, ruộng đồng và ở đoạn giữa là khu đô thị.

Hai nửa bắc và nam Trà Lý

Người Thái Bình hay nói "bắc sông" và "nam sông" khi chỉ vị trí, và con sông được ngầm hiểu là Trà Lý. Vùng bắc Trà Lý gồm phần lớn Hưng Hà, Đông Hưng, Quỳnh Phụ, Thái Thụy cũ; vùng nam Trà Lý gồm Vũ Thư, Kiến Xương, Tiền Hải cũ. Khu trung tâm cũ nằm vắt qua cả hai bờ.

Sự phân chia này có gốc ở thủy lợi. Mỗi nửa có một hệ thống công trình riêng để lấy nước từ sông, phân phối qua kênh chính, kênh nhánh, và tiêu nước thừa ra sông, ra biển. Nhờ vậy việc điều hành nước không bị phụ thuộc vào việc vượt qua một con sông lớn, và mỗi bên có thể chủ động theo lịch thời vụ của mình.

Trước khi có nhiều cầu, sông Trà Lý là chướng ngại đáng kể. Qua sông phải đi đò, phà, nên giao lưu giữa hai nửa ít hơn trong nội bộ mỗi nửa. Một số khác biệt nhỏ về phong tục, cách nói giữa các vùng bắc và nam sông được người địa phương nhận ra, dù người ngoài thấy gần như giống nhau.

Ngày nay, nhiều cây cầu bắc qua Trà Lý ở khu trung tâm và ở các huyện cũ đã xoá bớt khoảng cách. Người ở Kiến Xương lên khu trung tâm hay người ở Đông Hưng xuống Tiền Hải chỉ mất ít phút qua cầu. Nhưng thói quen nói "bên kia sông" vẫn còn, như một dấu vết của thời đò, phà chưa xa.

Sông Trà Lý ở khu trung tâm cũ

Khu trung tâm cũ là nơi người ta nhìn thấy sông Trà Lý rõ nhất. Khi tỉnh lỵ được đặt ở vùng Kỳ Bố năm 1890, bến sông là cửa ngõ chính: thuyền chở thóc gạo, hàng hoá, khách đi lại cập bến, phố chợ mọc lên gần bến. Nhiều tên phố, tên phường xung quanh vẫn gắn với lịch sử bến sông ấy.

Cây cầu qua sông ở trung tâm, mà người dân quen gọi là cầu Bo, là hình ảnh quen thuộc của đô thị này. Về sau có thêm những cây cầu mới để giảm tải và nối các khu đô thị mới ở hai bờ. Bờ sông ở đoạn trung tâm được kè, làm đường dạo, trở thành nơi người dân đi bộ, tập thể dục buổi sáng và buổi tối.

Năm 2025, khi khu trung tâm cũ chia thành năm phường, một phường được đặt tên Trà Lý, gồm phường Hoàng Diệu cũ và các xã ven ở phía bắc. Như vậy tên con sông, vốn đã gắn với đô thị hơn một thế kỷ, nay trở thành tên một đơn vị hành chính.

Cống dưới đê: nơi sông gặp đồng

Dọc hai bờ Trà Lý có nhiều cống xuyên qua thân đê. Cống là chiếc cửa nối dòng sông với kênh trong đồng: khi mở, nước sông chảy vào kênh để tưới, hoặc nước trong đồng chảy ra sông để tiêu; khi đóng, đê kín nước như chưa từng có lỗ hổng. Mỗi cống có cánh cửa thép hoặc gỗ, được nâng hạ bằng tời, và có người trực vận hành theo lệnh.

Có cống chuyên lấy nước, có cống chuyên tiêu nước, có cống làm cả hai việc. Ở vùng hạ lưu gần biển, nhiều cống còn kiêm nhiệm vụ ngăn mặn: đóng lại khi nước mặn theo triều lên, mở ra khi nước ngọt về. Vận hành sai một lần có thể làm mặn cả một cánh đồng, nên việc mở đóng cống được làm theo quy trình và thông báo.

Với người dân, cống là công trình quen thuộc đến mức ít ai để ý, nhưng đó lại là điểm yếu của đê khi lũ lớn. Thân đê quanh cống dễ bị thấm, rò, nên trong mùa lũ đây là chỗ được canh gác kỹ nhất. Trẻ em hay ra chơi, câu cá ở cửa cống; người lớn nên nhắc các em tránh xa khi cống đang vận hành vì dòng chảy rất mạnh.

Nước tưới cho đồng ruộng

Với nông nghiệp, Trà Lý là nguồn nước tưới chính cho phần giữa của vùng. Nước được lấy vào đồng qua các cống dưới đê khi mực nước sông đủ cao, hoặc qua trạm bơm khi mực nước thấp. Vì phần hạ lưu chịu ảnh hưởng thủy triều, người làm thủy lợi tận dụng lúc triều lên để lấy nước tự chảy vào kênh, tiết kiệm được điện bơm.

Nhưng nước sông cũng mang rủi ro. Vào mùa khô, khi nước sông Hồng xuống thấp, nước mặn từ biển theo triều đi ngược lên Trà Lý. Nếu mở cống lấy nước đúng lúc nước mặn đã lên, ruộng lúa sẽ bị hại. Vì vậy ở vùng hạ lưu, việc đo độ mặn và chọn giờ mở cống là việc chuyên môn của cán bộ thủy nông, không thể làm tuỳ tiện.

Vào mùa mưa, chiều ngược lại cũng quan trọng: nước thừa trong đồng phải được tiêu ra sông Trà Lý và các sông khác. Khi mưa lớn trùng triều cường và nước sông cao, việc tiêu nước rất khó, dẫn tới úng ngập ở những vùng trũng. Bài về thủy nông trong mục này giải thích kỹ hơn hệ thống ấy.

Cửa Trà Lý và vùng hạ lưu

Ở phía hạ lưu, sông Trà Lý mở rộng dần và đổ ra biển ở cửa Trà Lý, nằm giữa vùng Thái Thụy ở phía bắc và Tiền Hải ở phía nam. Đây là vùng nước lợ, có bãi bồi, có nuôi trồng thủy sản, có làng chài và tàu thuyền ra vào. Cảnh hai bên cửa sông khác hẳn đoạn giữa: đồng bằng trống trải hơn, gió mạnh hơn, đất mặn hơn.

Cửa sông là nơi phù sa lắng đọng và cũng là nơi bờ biển biến động. Khi đứng trên đê nhìn ra cửa, bạn sẽ thấy màu nước chia hai rõ rệt vào những ngày sông nhiều phù sa: dải nâu đục của nước sông đẩy ra xa, gặp màu xám xanh của nước biển. Bãi bồi ra ở đoạn này nhưng có thể bị sóng bào mòn ở đoạn khác; luồng lạch thay đổi theo mùa, khiến tàu thuyền phải chọn con nước để ra vào. Người đi biển ở đây thuộc luồng lạch như thuộc đường làng.

Với người đi chơi, vùng cửa Trà Lý không phải điểm du lịch đông khách như các bãi biển, nhưng có cảnh sông nước, đầm nuôi và làng chài đặc trưng. Đi vào vùng bãi cần chú ý con nước, không lội ra bãi khi triều đang lên.

Nghề ở vùng cửa sông gắn với nước lợ: nuôi tôm, cua, ngao trong đầm; đánh bắt bằng lưới, đăng đó dọc bờ; thu hái các loài sống ở bãi. Con nước quyết định giờ làm việc của người ở đây, không phải đồng hồ. Ai muốn hiểu nhịp sống vùng cửa sông nên dậy sớm một hôm ra bờ đê lúc triều rút, sẽ thấy cả làng xuống bãi.

Những thay đổi của sông Trà Lý gần đây

Lòng sông biến đổi. Như nhiều phân lưu khác của sông Hồng, lòng sông Trà Lý có đoạn bồi, đoạn sâu thêm do dòng chảy và do khai thác cát. Việc này ảnh hưởng tới bờ, đê và các cống lấy nước, nên được các cơ quan quản lý theo dõi thường xuyên.

Nước mặn lấn sâu hơn trong mùa khô. Những năm mực nước sông Hồng xuống thấp, nước mặn có thể vào sâu hơn trước, gây khó cho việc lấy nước ở vùng hạ lưu. Thời điểm lấy nước vì vậy phụ thuộc chặt vào các đợt xả nước của hồ chứa thượng nguồn.

Đô thị hoá hai bờ. Đoạn chảy qua khu trung tâm cũ có thêm kè, đường ven sông, khu đô thị mới; một số đoạn bãi sông trước đây trồng màu nay có công trình. Việc xây dựng ven sông phải tuân thủ quy định về hành lang đê điều và thoát lũ.

Chất lượng nước. Nước thải sinh hoạt, công nghiệp và chăn nuôi đổ ra sông là mối lo chung. Người dân ven sông thường là người đầu tiên nhận ra khi nước đổi màu, có mùi, cá chết; việc báo cho chính quyền xã, phường là cách góp phần giữ sông.

Câu hỏi thường gặp

Sông Trà Lý bắt nguồn từ đâu?

Sông Trà Lý là phân lưu của sông Hồng, tách ra ở vùng tây bắc của Thái Bình cũ. Từ đó sông chảy theo hướng tây – đông qua khu trung tâm cũ và đổ ra biển ở cửa Trà Lý, nằm trọn trong vùng Thái Bình cũ.

Cửa Trà Lý ở đâu?

Cửa Trà Lý nằm giữa vùng Thái Thụy cũ ở phía bắc và vùng Tiền Hải cũ ở phía nam. Từ 1/7/2025, hai bên cửa sông thuộc các xã ven biển của tỉnh Hưng Yên. Đây là vùng nước lợ có bãi bồi, đầm nuôi và làng chài.

Vì sao gọi là vùng bắc Trà Lý và nam Trà Lý?

Vì sông Trà Lý chia vùng Thái Bình cũ thành hai nửa, và hệ thống thủy nông được tổ chức riêng cho mỗi nửa. Người địa phương dùng cách gọi này để chỉ vị trí và cũng để nói về lịch nước, lịch thời vụ của từng vùng.

Phường Trà Lý có phải nằm dọc sông Trà Lý không?

Phường Trà Lý nằm ở khu trung tâm cũ, phía bắc, gồm phường Hoàng Diệu cũ và một số xã ven. Phường mang tên con sông chảy qua trung tâm, nhưng sông Trà Lý cũng chảy qua nhiều phường, xã khác, không riêng phường Trà Lý.

Có thể đi thuyền trên sông Trà Lý không?

Sông vẫn có tàu thuyền chở hàng và thuyền nghề cá ở đoạn hạ lưu. Các dịch vụ đi thuyền cho khách không phổ biến; nếu có, nên kiểm tra phương tiện có áo phao, có giấy phép, và tránh đi khi trời gió mạnh hoặc nước lớn.

Nước sông Trà Lý có bị mặn không?

Đoạn hạ lưu gần biển có thể bị nhiễm mặn vào mùa khô khi nước sông Hồng xuống thấp và triều lên. Vì vậy việc lấy nước tưới ở vùng này phải theo dõi độ mặn và chọn giờ mở cống. Đoạn thượng và trung lưu thường không bị mặn.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.