Ở vùng Thái Bình cũ, nước mặn xâm nhập xảy ra chủ yếu vào mùa khô, khi nước các sông xuống thấp và thủy triều đẩy nước biển ngược vào qua năm cửa sông. Các xã ven biển vùng Thái Thụy, Tiền Hải và vùng hạ lưu sông Trà Lý, sông Hồng chịu ảnh hưởng nhiều nhất; vùng trong như Hưng Hà, Vũ Thư ít bị hơn.
Mặn gây hại theo hai cách: nước sông bị mặn nên không lấy vào ruộng được đúng lúc cần, và đất ruộng sát biển vốn đã có muối sẵn, gặp năm khô hạn muối lại trồi lên tầng mặt. Lúa bị mặn sẽ chậm lớn, vàng lá, nặng thì chết. Vì vậy chuyện mặn là chuyện sống còn của nông nghiệp ven biển.
Bài này giải thích cơ chế mặn xâm nhập, những vùng dễ bị, cách hệ thống cống và kênh ngăn mặn, giữ ngọt, và cách nông dân thích nghi qua giống, lịch thời vụ và chuyển đổi cây con.
Nước mặn vào đồng bằng bằng đường nào
Nước biển không thấm thẳng qua đê vào đồng. Đường chính của nó là các cửa sông. Mỗi ngày triều lên, nước biển đẩy ngược vào lòng sông; khi nước sông nhiều, dòng ngọt chảy ra đủ mạnh để giữ nước mặn ở gần cửa. Khi nước sông ít, dòng ngọt yếu, nước mặn đi được xa hơn vào trong, có khi vào sâu nhiều cây số.
Vì nước mặn nặng hơn nước ngọt, nó thường đi theo đáy sông như một cái nêm, phía trên vẫn có lớp nước ngọt hơn. Điều này giải thích vì sao lấy nước ở tầng mặt và tầng đáy có thể khác nhau về độ mặn, và vì sao cán bộ thủy nông đo mặn ở nhiều độ sâu, nhiều thời điểm trong ngày trước khi quyết định mở cống.
Đường thứ hai là đất. Đất ven biển hình thành từ bãi bồi ngập mặn, nên trong đất và nước ngầm vẫn còn muối. Khi trời khô, nước bốc hơi từ mặt ruộng kéo nước ngầm mặn lên, muối đọng lại ở lớp đất trên. Ruộng mới khai hoang, ruộng sát đê biển và ruộng để khô lâu là nơi dễ bị hiện tượng này nhất.
Vì sao có năm mặn nặng, có năm nhẹ
Mức độ mặn phụ thuộc chủ yếu vào lượng nước ngọt từ thượng nguồn. Năm nào mưa ít ở lưu vực sông Hồng, nước về hạ du ít, mực nước sông thấp kéo dài, thì mặn vào sâu và lâu. Năm nhiều nước, mặn chỉ quanh quẩn ở vùng cửa. Các hồ chứa lớn ở thượng nguồn điều tiết dòng chảy nên cũng ảnh hưởng tới mặn ở hạ lưu.
Thủy triều là yếu tố thứ hai. Trong mỗi tháng có những kỳ triều cường, nước biển lên cao hơn bình thường; nếu triều cường trùng với lúc nước sông cạn, mặn lấn mạnh nhất. Ngược lại, những ngày triều kém là cơ hội tốt để lấy nước ngọt vào đồng.
Yếu tố thứ ba là lòng sông. Ở những đoạn lòng sông bị hạ thấp, do dòng chảy hoặc do khai thác cát, nước biển dễ đi sâu hơn trước. Nhiều người làm thủy lợi ở vùng hạ du sông Hồng đã nói về hiện tượng mực nước sông mùa cạn thấp hơn so với vài chục năm trước, khiến việc lấy nước và chống mặn khó hơn. Số đo cụ thể nên xem ở báo cáo của cơ quan chuyên môn.
Vùng nào dễ bị mặn
Mức độ ảnh hưởng thay đổi theo từng năm, nhưng có thể chia vùng Thái Bình cũ thành mấy nhóm theo nguy cơ:
| Nhóm vùng | Ví dụ | Nguy cơ mặn |
|---|---|---|
| Sát biển, ngoài hoặc sát đê biển | Các xã ven biển vùng Thái Thụy, Tiền Hải | Cao: cả nước sông lẫn đất đều mặn |
| Ven cửa sông | Vùng hai bên cửa Trà Lý, Diêm Điền, Ba Lạt, cửa Lân | Cao trong mùa khô, phụ thuộc giờ triều |
| Hạ lưu các sông, cách biển không xa | Phần dưới của vùng Kiến Xương, Đông Hưng, Quỳnh Phụ | Trung bình, tăng mạnh những năm khô |
| Vùng trong, gần thượng lưu | Hưng Hà, Vũ Thư, phần trên Đông Hưng | Thấp, chủ yếu lo thiếu nước hơn lo mặn |
Bảng chỉ có tính định hướng. Mỗi cánh đồng có cao độ, khoảng cách tới kênh, loại đất khác nhau, nên ngay trong một xã vẫn có ô ruộng mặn và ô ruộng không. Nông dân lâu năm thường biết rõ ô nào "hay mặn" để chọn giống và lịch cấy.
Cống ngăn mặn và lịch lấy nước
Công cụ chính chống mặn là hệ thống cống dưới đê và cống trên các sông nội đồng. Khi nước ngoài sông mặn, cống đóng để giữ nước ngọt trong kênh; khi nước ngoài sông ngọt, thường là lúc triều thấp hoặc lúc thượng nguồn xả nước, cống mở để lấy nước vào. Ở nhiều nơi, nước được lấy tự chảy theo con triều, tận dụng mực nước sông dâng lên khi triều lên mà độ mặn còn thấp.
Lịch lấy nước vì vậy rất đặc thù. Người vận hành theo dõi độ mặn, giờ triều, mực nước để biết mấy giờ mở, mấy giờ đóng. Vào cao điểm làm đất vụ xuân, khi cả vùng cần nước cùng lúc, mỗi giờ lấy được nước ngọt đều quý. Các xã thường thông báo lịch lấy nước để người dân chuẩn bị bờ vùng, bờ thửa đón nước.
Trong đồng, hệ thống kênh vừa dẫn nước ngọt vừa là kho chứa nước ngọt tạm. Giữ kênh sạch, không bồi lấp, không bị rác và bèo làm tắc, giúp trữ được nhiều nước hơn qua những ngày không lấy được nước từ sông. Đó là lý do việc nạo vét kênh mương được coi là việc thường niên ở vùng ven biển.
Nông dân thích nghi với mặn thế nào
Chọn giống chịu mặn. Ở những ô ruộng hay bị mặn, nông dân chọn các giống lúa chịu mặn khá hơn theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp. Giống chịu mặn không miễn nhiễm, nhưng chịu được mức mặn nhẹ trong thời gian ngắn mà không mất vụ.
Điều chỉnh lịch thời vụ. Cấy sớm hoặc muộn hơn để tránh giai đoạn mặn cao nhất trùng với lúc lúa non nhạy cảm. Lịch cụ thể mỗi năm thường được ngành nông nghiệp và thủy lợi thông báo dựa trên dự báo nguồn nước.
Rửa mặn cho đất. Khi có nước ngọt, cho nước vào ruộng rồi tháo ra vài lần để rửa muối khỏi lớp đất mặt trước khi cấy. Giữ nước trên ruộng cũng hạn chế muối từ dưới trồi lên.
Chuyển đổi cây con. Những ô ruộng mặn nặng, cấy lúa thường xuyên thất bát, có nơi được chuyển sang trồng cói, nuôi trồng thủy sản nước lợ, hoặc mô hình lúa kết hợp nuôi trồng. Việc chuyển đổi cần theo quy hoạch và hướng dẫn của địa phương.
Theo dõi thông tin. Nghe thông báo của xã, của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp về độ mặn và lịch lấy nước; không tự ý lấy nước từ sông bằng máy bơm khi chưa biết nước có mặn hay không.
Mặn và nước sinh hoạt
Mặn không chỉ ảnh hưởng tới ruộng. Ở một số xã ven biển, nước giếng khoan, giếng đào có thể bị lợ, không dùng được cho ăn uống. Từ lâu người dân vùng này đã quen trữ nước mưa trong bể, chum, để dùng cho ăn uống và nấu nướng, còn nước giếng chỉ để tắm giặt.
Những năm gần đây, nhiều xã ven biển có hệ thống cấp nước sạch tập trung, giảm phụ thuộc vào giếng. Tuy vậy, vào mùa khô hạn, nguồn nước thô cho các nhà máy nước cũng có thể bị mặn ảnh hưởng, khiến việc cấp nước gặp khó. Theo dõi thông báo của đơn vị cấp nước và trữ một ít nước dự phòng là thói quen tốt.
Với người mới chuyển đến vùng ven biển, nên hỏi hàng xóm về chất lượng nước giếng ở khu mình ở, và nếu dùng nước giếng cho ăn uống thì nên lọc và kiểm tra. Nước lợ uống lâu ngày không tốt cho sức khoẻ, nhất là với trẻ nhỏ và người có bệnh thận, huyết áp.
Mặn và rừng ngập mặn: hai mặt của một vùng đất
Nói tới mặn thường là nói tới thiệt hại, nhưng ở vùng ven biển Thái Bình cũ, nước mặn và nước lợ cũng là nền tảng của cả một hệ sinh thái và nhiều nghề. Rừng ngập mặn ở các cửa sông sống được là nhờ nước lợ; ngao, cua, tôm, cá ở bãi và đầm nuôi cần nước có độ mặn nhất định; đồng muối cần nước biển.
Vì vậy câu chuyện không phải là đẩy mặn đi hoàn toàn, mà là phân vùng: phía trong đê giữ ngọt cho lúa và rau màu, phía ngoài đê và vùng chuyển tiếp dùng cho rừng, nuôi trồng, làm muối. Ranh giới giữa hai vùng là hệ thống đê và cống, và việc vận hành cống quyết định ranh giới ấy có giữ được hay không.
Khi ranh giới bị phá vỡ, chẳng hạn khi bão làm sóng tràn đê hoặc khi cống vận hành sai, nước mặn vào ruộng lúa có thể làm hỏng vụ và để lại muối trong đất nhiều tháng. Ngược lại, nếu nước ngọt và nước thải tràn ra quá nhiều, vùng nuôi trồng ven biển cũng bị ảnh hưởng. Giữ cân bằng hai bên là bài toán lâu dài của vùng ven biển.
Mặn trong bối cảnh biến đổi khí hậu
Các nghiên cứu về biến đổi khí hậu ở Việt Nam thường nêu đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng dễ bị tổn thương với nước biển dâng và xâm nhập mặn. Vùng ven biển Thái Bình cũ, thấp và phẳng, nằm trong nhóm chịu ảnh hưởng đó. Mức độ cụ thể và tốc độ thay đổi cần dựa vào các kịch bản chính thức của cơ quan chuyên môn.
Ở cấp địa phương, những thay đổi người dân cảm nhận rõ hơn là những năm khô hạn kéo dài, mực nước sông mùa cạn thấp, mặn vào sâu hơn ở một số năm. Đáp ứng thực tế gồm nâng cấp cống, nạo vét kênh, cải tạo đê, chọn giống, điều chỉnh mùa vụ, và quy hoạch lại vùng sản xuất ven biển.
Với người đọc muốn hiểu sâu hơn, nên tìm các báo cáo của cơ quan quản lý thủy lợi, nông nghiệp và khí tượng thủy văn, thay vì dựa vào các bài viết giật gân trên mạng. Vấn đề có thật và nghiêm túc, nhưng cách nhìn cần dựa trên số liệu và kinh nghiệm thực địa.
Câu hỏi thường gặp
Nước mặn xâm nhập ở Thái Bình thường xảy ra khi nào?
Chủ yếu vào mùa khô, từ cuối năm sang đầu năm sau, khi nước sông Hồng và các sông xuống thấp. Những kỳ triều cường trong giai đoạn này là lúc mặn lấn sâu nhất. Năm nào thượng nguồn ít mưa thì mặn càng nặng và kéo dài.
Vùng nào của Thái Bình cũ bị mặn nhiều nhất?
Các xã ven biển vùng Thái Thụy, Tiền Hải và vùng hai bên các cửa sông Trà Lý, Diêm Điền, Ba Lạt, cửa Lân. Vùng trong như Hưng Hà, Vũ Thư ít bị mặn, chủ yếu lo thiếu nước trong mùa khô.
Làm sao biết nước sông có mặn không trước khi bơm vào ruộng?
Cách chắc nhất là theo thông báo của hợp tác xã, cán bộ thủy nông về độ mặn và lịch lấy nước, vì họ đo bằng thiết bị ở nhiều thời điểm. Không nên tự bơm nước sông vào ruộng khi chưa có thông tin, nhất là ở vùng gần cửa.
Ruộng đã bị mặn thì xử lý thế nào?
Khi có nước ngọt, cho nước vào rồi tháo ra vài lần để rửa muối, giữ nước trên ruộng để hạn chế muối trồi lên. Với lúa đang trồng, cần hỏi cán bộ khuyến nông để có biện pháp phù hợp. Ruộng mặn nặng kéo dài có thể cần chuyển đổi cây trồng.
Nước giếng ở vùng ven biển có uống được không?
Tuỳ nơi. Một số giếng ở xã ven biển bị lợ, không nên dùng cho ăn uống. Nếu dùng nước giếng, nên lọc và kiểm tra chất lượng. Nhiều xã đã có nước sạch tập trung; nước mưa trữ sạch cũng là nguồn quen thuộc ở vùng này.
Có thể ngăn hoàn toàn nước mặn không?
Không, và cũng không nên. Vùng ven biển cần nước lợ cho rừng ngập mặn, nuôi trồng thủy sản và làm muối. Mục tiêu là giữ ngọt cho vùng trong đê bằng đê, cống và lịch lấy nước hợp lý, còn vùng ngoài đê được dùng cho các hoạt động hợp với nước mặn, nước lợ.