Vùng Tiền Hải ở phía nam ven biển Thái Bình cũ có khí đốt nằm dưới lớp phù sa. Mỏ khí được phát hiện vào giữa thập niên 1970 và đưa vào khai thác từ đầu thập niên 1980, thường được nhắc tới như mỏ khí đầu tiên của Việt Nam được khai thác trên đất liền. Khí tại chỗ không đủ lớn để đưa đi xa, nhưng đủ để nuôi các lò nung ở ngay cạnh mỏ, và từ đó mọc lên một cụm nhà máy gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính.
Đây là lý do một huyện thuần lúa và nghề biển lại có ngành vật liệu xây dựng nổi tiếng cả nước. Nhiều thế hệ thợ lò, thợ men, thợ ép ở Tiền Hải đã sống với nghề này hàng chục năm. Từ 7/2025, vùng Tiền Hải cũ đã sắp xếp thành các xã mới như Tiền Hải, Tây Tiền Hải, Đông Tiền Hải, Nam Tiền Hải, Ái Quốc, Đồng Châu, Hưng Phú, Nam Cường, thuộc tỉnh Hưng Yên.
Bài này kể lại câu chuyện mỏ khí ở mức người đọc phổ thông cần biết, giải thích vì sao gạch men, sứ, kính lại cần khí, nghề này vận hành ra sao trong nhà máy, và những điều người đi làm ở đây nên chú ý. Bài không nêu sản lượng hay trữ lượng cụ thể vì đó là số liệu kỹ thuật thay đổi theo thời gian.
Khí đốt ở dưới đồng bằng: một phát hiện bất ngờ
Người ta hay nghĩ dầu khí chỉ có ngoài biển sâu. Thật ra bồn trũng sông Hồng, vùng trầm tích rất dày dưới châu thổ Bắc Bộ và kéo ra vịnh Bắc Bộ, có chứa khí ở nhiều độ sâu khác nhau. Các đoàn địa chất thăm dò ở vùng đồng bằng từ những năm 1960–1970 đã tìm thấy những túi khí có giá trị khai thác ở Tiền Hải.
Trữ lượng mỏ ở đây nhỏ so với các mỏ ngoài khơi phía Nam sau này, nên không làm thành đường ống dẫn đi xa hay nhà máy điện khí lớn. Cách dùng hợp lý nhất là đưa khí tới các nhà máy cần nhiệt ở gần, trong bán kính vài cây số. Đây là ví dụ điển hình của việc "tài nguyên nhỏ dùng tại chỗ" tạo ra một cụm công nghiệp.
Như mọi mỏ khí, sản lượng theo thời gian sẽ giảm dần khi áp suất vỉa xuống. Các nhà máy trong vùng vì vậy phải tính chuyện nguồn nhiên liệu dài hạn, kết hợp khí tại chỗ với nguồn năng lượng khác. Chi tiết về hiện trạng khai thác do doanh nghiệp dầu khí và cơ quan quản lý công bố, bạn nên đọc từ nguồn đó nếu cần số cụ thể.
Vì sao gạch men, sứ vệ sinh, kính lại cần khí
Gạch ốp lát làm từ đất sét, tràng thạch, cát, được nghiền mịn, ép thành viên, tráng men rồi nung ở nhiệt độ rất cao trong lò con lăn dài hàng chục mét. Sứ vệ sinh được đổ khuôn từ hồ sứ lỏng, sấy khô, tráng men và nung. Kính thì nấu chảy cát, sô đa và đá vôi trong lò rồi kéo hoặc ép thành tấm, thành sản phẩm. Cả ba ngành đều tiêu tốn rất nhiều nhiệt, và nhiệt phải đều, ổn định thì sản phẩm mới không cong vênh, rạn men, bọt khí.
Khí đốt cháy sạch hơn than, ít tro bụi bám vào mặt men, điều chỉnh ngọn lửa dễ hơn. Với gạch men cao cấp và kính, đây là khác biệt lớn về chất lượng. Có khí tại chỗ nghĩa là chi phí nhiên liệu thấp hơn và không phụ thuộc chuỗi vận chuyển than.
Ngoài nhiên liệu, các nhà máy còn cần nguyên liệu khoáng như đất sét, cao lanh, tràng thạch, cát trắng, phần lớn phải chở từ các tỉnh khác về. Nghĩa là lợi thế của Tiền Hải nằm ở nhiệt, không nằm ở nguyên liệu. Khi lợi thế về nhiên liệu thu hẹp, các nhà máy ở đây phải cạnh tranh bằng tay nghề, thương hiệu và chi phí như mọi nơi khác.
Một ngày trong nhà máy gạch ốp lát: các khâu chính
Nếu bạn đang cân nhắc đi làm ở một nhà máy vật liệu vùng Tiền Hải, hình dung các khâu sau giúp biết mình hợp chỗ nào:
- Chuẩn bị nguyên liệu: cân, phối liệu, nghiền ướt trong máy nghiền bi, sấy phun thành bột. Khâu này nhiều bụi và tiếng ồn, cần khẩu trang chuẩn và nút tai.
- Ép: máy ép thuỷ lực ép bột thành viên gạch mộc. Công nhân vận hành, theo dõi độ dày, độ ẩm.
- Tráng men, in hoa văn: dây chuyền phun men, in kỹ thuật số. Cần mắt tinh, cẩn thận.
- Nung: lò con lăn chạy liên tục ngày đêm, nhiệt cao. Thợ lò theo dõi đường cong nhiệt, xử lý sự cố. Khâu nóng nhất.
- Phân loại, đóng gói: kiểm tra bằng mắt và máy, xếp loại, đóng hộp, xếp pallet. Nhiều lao động nữ làm khâu này.
- Kho và bốc xếp: xe nâng, xếp hàng lên xe tải. Cần chứng chỉ lái xe nâng.
Lò nung chạy liên tục nên nhà máy chia ca ba, có cả ca đêm. Hỏi rõ chế độ đảo ca, phụ cấp ca đêm và ngày nghỉ khi nhận việc.
Sức khoẻ và an toàn: điều không nên ngại hỏi
Bụi silic từ đất sét, cát, tràng thạch nếu hít lâu năm mà không có bảo hộ tốt có thể gây bệnh phổi nghề nghiệp. Đây là rủi ro đã được nhận biết từ lâu trong ngành gốm sứ, kính trên thế giới. Doanh nghiệp làm đúng sẽ có hệ thống hút bụi, cấp khẩu trang phù hợp, đo môi trường lao động định kỳ và khám sức khoẻ cho công nhân, kể cả chụp phổi ở những vị trí có nguy cơ.
Khu vực lò nung và lò nấu kính nóng, cần quần áo chịu nhiệt, găng tay, kính bảo hộ, và chế độ nghỉ giữa giờ, uống đủ nước trong mùa hè. Khâu cắt, mài kính cần găng chống cắt.
Người lao động có quyền được biết mình làm ở vị trí có yếu tố độc hại hay không, được hưởng chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và phụ cấp theo quy định hiện hành, được khám bệnh nghề nghiệp. Nếu nghi ngờ mình có dấu hiệu bệnh liên quan nghề, hãy đi khám ở cơ sở y tế có chuyên khoa và giữ hồ sơ. Mức phụ cấp, danh mục nghề nặng nhọc độc hại do văn bản hiện hành quy định, bạn nên hỏi phòng nhân sự hoặc công đoàn cơ sở.
Ngành vật liệu Tiền Hải và chuyện thị trường
Ngành gạch ốp lát, sứ vệ sinh phụ thuộc mạnh vào thị trường xây dựng. Năm nào xây nhà, xây chung cư nhiều thì nhà máy chạy hết công suất, công nhân tăng ca; năm nào bất động sản trầm lắng, hàng tồn kho tăng, nhà máy giảm ca, có khi tạm dừng một dây chuyền. Người làm ở đây đã quen với chu kỳ lên xuống này.
Cạnh tranh trong ngành rất lớn: có nhà máy ở nhiều tỉnh khác trong nước, có hàng nhập khẩu. Nhà máy ở Tiền Hải vì vậy luôn phải đổi mẫu mã, nâng chất lượng, giảm tiêu hao năng lượng. Một số nhà máy đầu tư dây chuyền in kỹ thuật số, lò tiết kiệm nhiệt.
Bài này không đánh giá triển vọng của ngành hay của doanh nghiệp nào. Với người lao động, điều thực tế là chọn doanh nghiệp đóng bảo hiểm đầy đủ, trả lương đúng hạn, có lịch sử hoạt động lâu, và học thêm kỹ năng như vận hành lò, bảo trì máy để không bị phụ thuộc vào một khâu đơn giản.
Một nét riêng của vùng biển Tiền Hải
Đi trên đường từ trung tâm Thái Bình cũ xuống biển Đồng Châu, người ta đi qua đồng lúa, làng xóm, rồi bất chợt gặp những ống khói, những kho hàng xếp đầy pallet gạch men. Sự đan xen này là đặc trưng của Tiền Hải: ruộng lúa, đầm tôm, bãi ngao nằm cạnh nhà máy vật liệu.
Tiền Hải vốn là vùng đất khẩn hoang ven biển, được lập trong thế kỷ 19 dưới thời Nguyễn, gắn với công cuộc khai hoang của doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ. Đất ở đây trẻ, nhiều cồn bãi, người dân quen tự lập nghiệp. Khi có khí, có nhà máy, nhiều gia đình có thêm thu nhập ổn định mà không phải rời quê.
Câu chuyện lịch sử khai hoang, tên gọi và các làng cổ nằm ở mục lịch sử của trang; biển Đồng Châu, Cồn Vành ở mục biển và vùng cồn bãi. Bài này chỉ nhìn từ góc kinh tế: một mỏ khí nhỏ đã làm thay đổi cơ cấu nghề nghiệp của cả một vùng như thế nào.
Từ lò gạch đất nung ở làng đến gạch không nung
Ngoài cụm gạch men, sứ, kính ở Tiền Hải, vật liệu xây dựng ở vùng Thái Bình cũ còn có một lớp khác ít được nói tới: gạch đất nung. Đồng bằng phù sa có đất sét dồi dào, nên xưa kia nhiều làng có lò gạch thủ công, đắp lò bằng đất, đốt bằng rơm, trấu, củi, sau này là than. Mùa khô, cả cánh đồng bốc khói lò gạch là hình ảnh quen thuộc.
Lò thủ công tốn đất ruộng, gây khói bụi, nên theo chính sách chung, các lò kiểu cũ dần bị dừng, chuyển sang lò công nghệ mới trong cụm công nghiệp hoặc sang gạch không nung làm từ xi măng, cát, mạt đá và cả tro xỉ nhiệt điện. Nghề khai thác cát lòng sông Hồng, sông Trà Lý để làm vật liệu san lấp, xây dựng cũng phải theo giấy phép, không được hút cát tự do vì ảnh hưởng tới bờ sông và đê.
Nhìn rộng ra, vật liệu xây dựng là ngành có mặt ở hầu hết các xã của vùng: xưởng gạch không nung, bãi cát, trạm trộn bê tông, cửa hàng vật liệu. Nó lớn lên theo nhu cầu xây nhà ở nông thôn và theo các công trình hạ tầng.
Đồng lương nhà máy đã đổi đời sống làng ven biển thế nào
Trước khi có nhà máy, phần lớn gia đình ở vùng Tiền Hải sống bằng lúa, đánh cá, làm muối, nuôi trồng ven bờ, và đi làm thuê xa. Thu nhập bấp bênh theo mùa vụ và theo bão. Khi các nhà máy vật liệu tuyển người, nhiều gia đình có thêm một người hưởng lương tháng, có bảo hiểm, có lương hưu về sau. Đó là thay đổi lớn về sự ổn định.
Nhịp sinh hoạt của làng cũng đổi theo ca nhà máy: sáng sớm và chiều muộn đường làng đông xe máy, quán ăn sáng mở sớm hơn, nhiều người làm ca đêm ngủ ngày. Một số nghề phụ quanh nhà máy mọc lên: chở hàng, bốc xếp, bán vật liệu, làm cơm cho công nhân.
Mặt trái là lớp người làm lâu năm trong môi trường bụi, nóng nay đã có tuổi, sức khoẻ cần được theo dõi; và khi nhà máy gặp khó khăn về thị trường, cả làng cảm nhận được. Đây là lý do nhiều gia đình vẫn giữ ruộng, giữ bãi bên cạnh việc nhà máy, như một tấm đệm an toàn.
Câu hỏi thường gặp
Mỏ khí Tiền Hải được phát hiện năm nào?
Mỏ khí ở vùng Tiền Hải được các đoàn địa chất phát hiện vào giữa thập niên 1970 và đưa vào khai thác từ đầu thập niên 1980. Nếu cần mốc ngày tháng chính xác cho tài liệu nghiên cứu, bạn nên đối chiếu với tư liệu của ngành dầu khí và địa chất.
Khí Tiền Hải có dùng để phát điện không?
Khí ở Tiền Hải chủ yếu được cấp cho các nhà máy vật liệu xây dựng gần mỏ làm nhiên liệu nung. Hai nhà máy nhiệt điện lớn ở vùng Thái Bình cũ nằm ở Thái Thụy và dùng than, không phải khí Tiền Hải.
Gạch men Tiền Hải có còn sản xuất không?
Các nhà máy gạch ốp lát, sứ vệ sinh, kính ở vùng Tiền Hải vẫn hoạt động, quy mô và số dây chuyền thay đổi theo thị trường xây dựng từng năm. Muốn biết doanh nghiệp cụ thể, bạn có thể tra danh bạ doanh nghiệp của trang hoặc cổng đăng ký doanh nghiệp quốc gia.
Làm nhà máy gạch men có ảnh hưởng sức khoẻ không?
Có những vị trí có bụi silic, nhiệt độ cao và tiếng ồn. Rủi ro giảm nhiều nếu doanh nghiệp có hệ thống hút bụi, cấp bảo hộ đúng chuẩn và khám sức khoẻ định kỳ. Người lao động nên hỏi rõ các điều này và tự giữ hồ sơ khám của mình.
Khu công nghiệp Tiền Hải nay thuộc xã nào?
Sau sắp xếp đơn vị hành chính từ 7/2025, vùng Tiền Hải cũ được chia thành các xã mới thuộc tỉnh Hưng Yên. Địa chỉ chính xác của khu và từng nhà máy nên tra trên thông tin đăng ký doanh nghiệp đã cập nhật hoặc hỏi ban quản lý khu công nghiệp.
Vì sao Thái Bình có mỏ khí mà không giàu như vùng dầu khí?
Vì trữ lượng mỏ ở Tiền Hải nhỏ, chỉ đủ dùng tại chỗ cho một cụm nhà máy, không đủ để làm ngành khai thác lớn hay xuất khẩu. Giá trị của nó nằm ở chỗ tạo ra ngành vật liệu xây dựng và việc làm cho vùng ven biển.