Nam Cao là làng nghề tơ tằm thuộc huyện Kiến Xương cũ của tỉnh Thái Bình, nổi tiếng với vải đũi dệt từ tơ tằm. Người làng làm trọn chuỗi nghề: trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, rồi dệt thành đũi và lụa. Tấm đũi Nam Cao có mặt vải hơi gồ, sợi to nhỏ không đều, mặc vào mát và thấm mồ hôi.
Vùng Kiến Xương nay đã chia về các xã mới của tỉnh Hưng Yên sau đợt sắp xếp tháng 7/2025. Khi đi, bạn hỏi theo tên làng Nam Cao, thuộc Kiến Xương cũ, người trong vùng biết ngay. Tên làng vẫn là thứ định vị chắc nhất.
Bài này đi theo đường đi của sợi tơ: từ lá dâu, con tằm, cái kén, nồi ươm, đến khung dệt. Bạn sẽ hiểu vì sao đũi có mấu, đũi khác lụa ở đâu, và làm sao nhận ra một tấm đũi tơ tằm thật giữa nhiều loại vải gọi tên "đũi" trên thị trường.
Vì sao vùng ven sông hợp nghề tơ tằm
Nghề tơ tằm cần ba thứ: đất trồng dâu, người chăm tằm và nước để ươm tơ. Vùng đồng bằng ven sông của Thái Bình cũ có bãi phù sa màu mỡ, cây dâu mọc nhanh, lá nhiều; người nông dân quen việc tỉ mỉ; nước sông và giếng sẵn. Ở nhiều làng Bắc Bộ, nghề dâu tằm từng là nghề phụ quan trọng, bãi dâu xanh chạy dọc triền đê là cảnh quen thuộc.
Khi vải công nghiệp rẻ tràn về, nhiều làng bỏ dâu trồng lúa, trồng màu. Nam Cao là một trong những nơi còn giữ được nghề, chủ yếu nhờ chuyển hướng sang đũi, một loại vải có chất riêng mà máy móc khó bắt chước hoàn toàn. Người làng không cố cạnh tranh với lụa công nghiệp về độ mịn mà đi theo hướng ngược lại: giữ cái thô mộc, cái gợn tay của sợi tơ.
Đây cũng là lý do bạn nên coi đũi như một sản phẩm của cả chuỗi nông nghiệp chứ không chỉ của khung dệt. Một năm dâu xấu, tằm bệnh, thì vải ít và đắt công hơn; một năm thuận, nhà nhà ươm tơ, sân phơi trắng sợi.
Từ lá dâu đến sợi tơ: các công đoạn
Nghề tơ tằm có nhịp riêng, mỗi lứa tằm kéo dài vài tuần. Các bước chính như sau:
- Trồng và hái dâu. Dâu trồng trên bãi, trên ruộng cao. Lá hái về phải sạch, khô, không dính thuốc trừ sâu, vì tằm rất nhạy.
- Nuôi tằm. Tằm nở từ trứng được nuôi trên nong, nia trong nhà thoáng. Tằm ăn dâu liên tục, qua các lần ngủ và lột xác, lớn rất nhanh. Người nuôi phải giữ nhiệt độ, độ ẩm, dọn phân, thay lá nhiều lần trong ngày.
- Cho tằm làm kén. Tằm chín được đưa lên né (khung có nhiều ô) để nhả tơ, quấn kén quanh mình trong vài ngày.
- Thu kén, chọn kén. Kén được gỡ khỏi né, chọn kén chắc, đều, loại kén mỏng, kén đôi, kén bẩn.
- Ươm tơ. Kén được thả vào nồi nước nóng cho keo tơ mềm ra; người ươm dùng đũa tìm đầu sợi, gộp nhiều sợi kén thành một sợi tơ rồi quấn lên guồng.
- Phân loại tơ. Lớp tơ ngoài cùng của kén thô, không đều, gọi là tơ gốc; lớp trong mịn hơn, gọi là tơ nõn. Tơ gốc và tơ thô là nguyên liệu chính của đũi; tơ nõn dùng dệt lụa mịn.
- Chuội, se, nhuộm. Tơ được xử lý cho mềm, se thành sợi đủ chắc, nhuộm màu nếu cần, rồi đánh ống chuẩn bị dệt.
Mỗi bước đều có thể làm hỏng cả lứa: lá dâu ướt làm tằm bệnh, nước ươm quá nóng làm sợi giòn, se không đều làm vải lỗ chỗ. Người làm lâu năm nhận ra lỗi bằng mắt và tay trước khi máy móc nào đo được.
Vì sao vải đũi có mấu và mặt gợn
Điểm nhận ra đũi ngay là mặt vải không phẳng lì: có những đốm sợi to hơn, gọi nôm là mấu, chạy lốm đốm theo chiều sợi. Mấu đến từ chính nguyên liệu. Tơ gốc lấy từ lớp ngoài của kén nên sợi không đều, chỗ dày chỗ mỏng; khi se và dệt, những chỗ dày nổi lên thành mấu. Đó không phải lỗi mà là đặc tính, và chính nó tạo cái vẻ mộc của đũi.
Đũi thường dệt kiểu dệt trơn, sợi ngang và sợi dọc đan nhau đơn giản, nên vải thoáng, nhẹ, thấm mồ hôi nhanh. Mặc trời nóng thấy mát, mặc lâu vải mềm dần. Nhược điểm là đũi dễ nhăn, giặt mạnh dễ xù, nên cần giặt tay nhẹ, phơi chỗ râm.
Lụa thì ngược lại: dùng tơ nõn mịn, sợi đều, dệt dày, mặt bóng, rủ mềm. Hai loại vải cùng từ một con tằm nhưng cho hai cảm giác hoàn toàn khác, giống như gạo xay và gạo xát trắng từ cùng một bông lúa. Hiểu điều này giúp bạn chọn đúng loại cho việc mình cần, thay vì so đũi với lụa xem cái nào "tốt hơn".
Một điểm thú vị: hai tấm đũi cùng làng, cùng nhà dệt vẫn có thể khác nhau chút ít về độ dày, độ gợn, vì mỗi lứa kén mỗi khác. Người mua quen đũi coi đó là cái riêng của hàng thủ công, không phải lỗi.
Đũi, lụa và các loại vải hay bị gọi nhầm là đũi
Trên thị trường, chữ "đũi" được dùng khá rộng. Bảng dưới giúp bạn biết mình đang cầm loại vải nào:
| Loại vải | Nguyên liệu | Mặt vải | Cảm giác khi mặc |
|---|---|---|---|
| Đũi tơ tằm | Tơ gốc, tơ thô của kén tằm | Có mấu, gợn, hơi xốp | Mát, thấm mồ hôi, mềm dần theo thời gian |
| Lụa tơ tằm | Tơ nõn | Mịn, bóng nhẹ, rủ | Mát, trơn, nhẹ |
| Đũi pha | Tơ tằm trộn sợi khác | Có mấu nhưng đều hơn | Ít nhăn hơn, kém thoáng hơn chút |
| Vải "đũi" sợi bông, sợi lanh | Bông hoặc lanh dệt giả mặt đũi | Gợn, thô | Thoáng, nhưng không có độ mượt của tơ |
| Vải "đũi" tổng hợp | Sợi polyester dệt giả mấu | Mấu đều, hơi bóng nhựa | Bí, ít thấm, tĩnh điện |
Không loại nào là "lừa" nếu người bán nói rõ. Chuyện chỉ thành vấn đề khi vải tổng hợp được bán với giá và lời giới thiệu của đũi tơ tằm.
Nhận ra đũi tơ tằm thật: vài phép thử đơn giản
Đốt một sợi nhỏ. Xin một sợi ở mép vải, đốt bằng bật lửa. Tơ tằm cháy chậm, có mùi khét như tóc cháy, tro đen bóp ra vụn mịn. Sợi tổng hợp cháy co lại, chảy nhựa, vón thành cục cứng, mùi hắc. Đây là phép thử rõ nhất.
Nhìn mấu. Mấu của đũi thật không đều về khoảng cách và độ to; mấu của hàng giả thường lặp lại đều đặn theo một nhịp.
Cầm và vò. Đũi thật cầm hơi mát tay, vò lại bung ra chậm và còn nếp nhăn; vải tổng hợp vò xong bung ngay, ít nhăn, cầm thấy âm ấm.
Soi ánh sáng. Đũi thật soi lên thấy sợi không đồng đều độ dày; hàng giả soi thấy sợi đều tăm tắp như kẻ chỉ.
Hỏi về nguồn sợi. Người làm nghề thật thường kể được tơ lấy từ đâu, dệt ở nhà nào, nhuộm bằng gì. Câu trả lời mơ hồ là lý do để cẩn trọng.
Giặt thử một mẩu. Nếu mua cả tấm vải, xin một mẩu nhỏ về giặt thử. Đũi tơ tằm thấm nước nhanh, khô hơi cứng rồi mềm lại khi vò; vải tổng hợp thấm nước chậm, khô rất nhanh và trơn tay.
Bãi dâu, nong tằm và nhịp sống của nhà làm tơ
Nhà nuôi tằm sống theo con tằm. Mùa tằm, người ta dậy sớm đi hái dâu khi lá đã ráo sương, tối muộn còn rắc lá lứa cuối. Gian nuôi tằm phải kín gió lùa nhưng thoáng khí, không khói bếp, không mùi lạ; nhiều nhà kiêng cả việc người đi đám về bước vào gian tằm, một kinh nghiệm dân gian để tránh mang mầm bệnh vào. Những ngày tằm sắp chín, cả nhà gần như không rời nong.
Bãi dâu cũng là một phần cảnh quan của làng ven sông. Dâu được đốn tỉa theo lứa để ra lá non đều; đất bãi được bồi phù sa sau mùa nước nên ít phải bón nhiều. Khi giá kén xuống, nhiều nhà phá dâu trồng ngô, trồng rau; khi giá lên, bãi dâu lại xanh. Diện tích dâu vì thế là một chỉ báo khá rõ về sức sống của nghề tơ tằm ở một làng.
Phụ phẩm của nghề cũng được dùng hết: nhộng tằm sau khi ươm là món ăn quen ở nhiều vùng Bắc Bộ, phân tằm và lá dâu thừa dùng cho ruộng vườn. Một vòng khép kín như vậy là điển hình của kinh tế hộ nông thôn đồng bằng.
Chăm sóc áo đũi cho bền
Đũi tơ tằm là sợi protein, gần với tóc người, nên chăm như chăm tóc: nước mát, xà phòng nhẹ, không ngâm lâu, không vắt xoắn. Giặt tay là tốt nhất; nếu dùng máy thì cho vào túi giặt, chọn chế độ nhẹ. Không dùng thuốc tẩy có clo vì làm sợi giòn và ố vàng.
Phơi đũi ở chỗ râm, thoáng gió, tránh nắng gắt vì nắng làm phai màu, nhất là màu nhuộm tự nhiên. Là ở nhiệt độ thấp, lót một lớp vải mỏng, là khi vải còn hơi ẩm cho phẳng nếp. Cất trong tủ khô, có túi chống ẩm vào mùa nồm, vì tơ tằm ẩm lâu dễ có đốm mốc.
Một chiếc áo đũi mặc vài năm sẽ mềm hơn, rủ hơn lúc mới mua. Nhiều người thích đũi chính vì nó "già" đẹp theo người mặc, khác với vải tổng hợp mới thì đẹp, cũ thì xù.
Nghề tơ tằm ở Nam Cao hôm nay
Như nhiều làng nghề khác của Thái Bình cũ, Nam Cao đối mặt với chuyện người trẻ đi làm công ty, diện tích dâu thu hẹp, và cạnh tranh từ vải công nghiệp. Một số hộ chuyển sang chỉ dệt, mua tơ từ nơi khác về; một số giữ cả chuỗi nhưng làm ít hơn trước. Máy dệt điện thay dần khung gỗ, giúp ra vải nhanh hơn nhưng vẫn giữ được đặc tính của sợi tơ gốc.
Đũi được ưa chuộng trở lại trong thời trang, nhất là áo mặc mùa hè, khăn quàng, đồ nội thất như rèm, bọc gối. Người làng đã làm thêm nhiều màu nhuộm, nhiều độ dày khác nhau cho từng loại sản phẩm. Nếu đến Nam Cao vào mùa tằm, bạn sẽ thấy nong tằm trong nhà, kén vàng trên né, nồi ươm bốc hơi. Hãy xin phép trước khi vào nhà nuôi tằm, vì tằm nhạy với mùi lạ và người lạ ra vào nhiều.
Điều đáng quý ở Nam Cao là người làng vẫn hiểu cả chuỗi nghề, từ cây dâu đến tấm vải. Ở nhiều nơi khác, nghề dệt lụa đã tách hẳn khỏi nghề nuôi tằm, thợ dệt chỉ biết sợi mua về. Giữ được cả chuỗi là giữ được khả năng điều chỉnh chất vải từ gốc.
Câu hỏi thường gặp
Đũi Nam Cao và lụa Nam Cao có phải một loại không?
Không. Cả hai đều từ tơ tằm nhưng đũi dùng tơ gốc, tơ thô nên mặt vải có mấu, xốp; lụa dùng tơ nõn mịn nên mặt bóng, rủ. Làng Nam Cao làm cả hai, nhưng tên tuổi của làng gắn nhiều hơn với đũi.
Áo đũi có bị nhăn nhiều không?
Đũi tơ tằm nhăn khá nhiều, đó là đặc tính của sợi tự nhiên dệt thưa. Nhiều người coi nếp nhăn nhẹ là nét riêng của đũi. Nếu cần ít nhăn, có thể chọn đũi pha, nhưng sẽ kém thoáng và kém mềm hơn đũi tơ tằm nguyên chất.
Tơ gốc là gì?
Tơ gốc là lớp tơ ngoài cùng của cái kén, sợi không đều, thô, nhiều đoạn dày mỏng. Trước đây tơ gốc bị coi là loại thứ, nay lại là nguyên liệu chính của đũi vì nó tạo ra mặt vải có mấu tự nhiên mà người mua ưa.
Vì sao vải đũi tơ tằm thật đắt hơn đũi tổng hợp?
Vì cả chuỗi làm ra nó tốn công: trồng dâu, nuôi tằm vài tuần, ươm tơ bằng tay, se và dệt. Một lứa tằm có thể hỏng vì thời tiết hay bệnh. Đũi tổng hợp làm từ sợi công nghiệp sản xuất hàng loạt nên giá thành thấp hơn nhiều.
Làng Nam Cao có cho khách xem nuôi tằm, ươm tơ không?
Đây là làng sản xuất chứ không phải điểm du lịch có tổ chức. Bạn có thể ghé và xin phép các hộ làm nghề, nhưng nên đi nhóm nhỏ, tránh làm ồn và tránh vào gian nuôi tằm khi chủ nhà không đồng ý, vì tằm rất nhạy với môi trường.